Bản án 293/2017/HSST ngày 29/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 293/2017/HSST NGÀY 29/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2017/HSST, ngày 07 tháng 11 năm 2017 đối với:

Bị cáo: Lê Văn Kh - Sinh năm 1984.

HKTT: Thôn Đ, thị trấn Q, huyện X, tỉnh Thanh Hóa.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Văn hóa: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Văn S (Đã chết) và bà Mai Thị H, sinh năm 1963; Chưa có vợ, con ; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/9/2017 đến ngày 30/9/2017 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lê Văn Kh bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 7h30 phút ngày 21/9/2017, tại khu vực ngã tư đường tránh thành phố H, đoạn giáp ranh giữa phường Đ và phường Q, thành phố H. Tổ công tác phường Đ đã bắt quả tang Lê Văn Kh đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi tiến hành kiểm tra, Kh tự giác giao nộp 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước khoảng 1x2cm, bên trong chứa chất bột màu trắng. Kh khai là heroine vừa mới mua được với mục đích sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì đã bị phát hiện.

Ngoài ra trước khi tổ công tác kiểm tra Kh thì phát hiện thấy phía trước có một chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA-RIO màu trắng BKS 36A-173.55 vừa mới phóngđi phía trước và phát hiện thu giữ trên mặt đường cách nơi Kh đứng khoảng 04m có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 07 gói giấy có dòng kẻ, kích thước mỗi gói khoảng 0,5x1cm, bên trong chứa chất bột màu trắng. Kh khai không biết là của ai. Tổ công tác Công an phường Đ đã đưa Lê Văn Kh về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong số ma túy trên theo quy định của pháp luật, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Công an thành phố H để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số 2071/MT-PC54 ngày 23/9/2017 của phòng kỹthuận hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

-Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu M1 thu giữ của LêVăn Khánh là ma túy, có trọng lượng là 0,393g loại Heroine.

-Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu M2 thu giữ trên mặt đường là ma túy, có trọng lượng là 0,033g loại Heroine.

Quá trình điều tra, Lê Văn Kh khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 7h ngày 21/9/2017 Kh điều khiển xe mô tô BKS 36B4-711.09 đi từ nhà lên trung tâm Methadone của tỉnh Thanh Hóa để uống thuốc. Khi đi đến khu vực ngã tư đường tránh thành phố H, Kh thấy một xe ô tô màu trắng đang đỗ ở lề đường bên phải, Kh dừng xe lại rồi mua của người này 01 gói heroine với giá 200.000đ. Sau khi bán heroine cho Kh xong, người này phóng xe ô tô đi luôn còn Kh cầm gói heroine vừa mua được trên tay và lên xe đi tìm nơi để sử dụng. Mới đi được khoảng 4m thì bịtổ công tác Công an phường Đ, thành phố H phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Đối với 07 gói heroine thu giữ dưới mặt đường, quá trình điều tra không chứng minh được của ai nên không có căn cứ để xử lý

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA-RIO màu trắng BKS 36A-173.55 khi công an phường Đ đến bắt quả tang Kh thì phóng đi. Qua xác minh, tra cứu chiếc xe trên là của chị Cao Thị H, sinh năm 1980 ở phố C, phường Đ, thành phố H; chồng là anh Lại Ngọc Ph, sinh năm 1981. Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã làm việc với vợ chồng anh Ph nhưng cả hai người đều không thừa nhận vào sáng ngày ngày 21/9/2017 đã điều khiển xe đi đến khu vực đường này và cũng không bán ma túy cho ai vì hiện nay anh Ph đang phải chạy thận tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa.

Đối với người đàn ông ngồi trên xe ô tô bán ma túy cho Kh, Kh khai khôngbiết rõ quê quán, địa chỉ ở đâu. Trong quá trình điều tra, cho Kh nhận dạng trên ảnh để xác định Lại Ngọc Ph có phải là người ngồi trên xe bán ma túy cho Kh không nhưng Kh không nhận ra ai là người đã bán ma túy cho mình nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 36B4-711.09 khi bị bắt quả tang cơ quan điều tra đã thu giữ của Kh. Quá trình điều tra xác định chủ xe là Lê Văn Kh nhưng Kh chỉ dùng xe làm phương tiện đi uống thuốc Me thadon, không liên quan đến vụ án. DoKh hiện đang bị tạm giam nên đã ủy quyền cho em trai là Lê Văn B nhận lại xe để quản lý. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh B là phù hợp.

Cáo trạng số 248/CT-VKS-MT, ngày 06/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lê Văn Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị:Tuyên bố: Lê Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lê Văn Kh từ 15 tháng đến 18 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì. Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát và bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Văn Kh khai nhận: Khoảng 7h 30 phút ngày 21/9/2017, tại khu vực ngã tư đường tránh thành phố H, đoạn giáp ranh giữa phường Đ và phường Q, thành phố H. Tổ công tác Công an phường Đ đã bắt quả tang Lê Văn Kh đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy có trọng lượng0,393g loại heroine, mục đích sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì đã bị phát hiệnbắt quả tang.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện Kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lê Văn Kh phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những tệ nạn nguy hiểm của xã hội, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của nhiều gia đình. Ma túy đã làm kiệt quệ về sức khỏe và tài sản, là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm, gây lan truyền căn bệnh HIV/ADS. Do nghiện ma túy nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước và còn gây mất trật tự trị an xã hội.

Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”của bị cáo Lê Văn Kh, do chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự nên căn cứ vào Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét mức hình phạt thấp hơn so với khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự,

Với tính chất vụ án nghiêm trọng, với hành vi và nhân thân của bị cáo, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổnđịnh nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,380g chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 và 0,020 g chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 (Mẫu vật còn lại sau giám định) là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Lê Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hìnhsự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Lê Văn Kh 15 (Mười lăm) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/9/ 2017.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ Một phong bì do niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa có chữ ký của Lê Thị Thanh L, Nguyễn Trần Đ, Lưu Bình Ng và Nguyễn Ngọc A. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định.

Hiện số tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng số 24/THA ngày 06/11/2017 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H và Công an thành phố H.

Về án phí: Áp dụng khoản 1,2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 củaUBTVQH 14.

Bị cáo Lê Văn Kh phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


131
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về