Bản án 29/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 29/2017/HSST NGÀY 29/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2017/HSST ngày 25/8/2017 đối với bị cáo:

Phạm Xuân H – sinh năm 1982

Sinh trú quán: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định

Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.

Con ông Phạm Quang T; đã chết

Con bà Đinh Thị N; sinh năm 1951.

Bị cáo là con một trong gia đình; Vợ là Đinh Thị G; sinh năm 1983; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án: Ngày 23/5/2013 bị TAND huyện Y, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 24/5/2015 chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự: Ngày 20/12/2016 bị Công an phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2017 đến nay (có mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do tái nghiện ma túy, khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 06/7/2017, Phạm Xuân H điện thoại rủ anh Bùi Văn N ra thành phố Nam Định uống Methadol. Anh N đồng ý và điều khiển xe mô tô BKS 29.837 TU của gia đình đến chở H đi thành phố Nam Định để cùng uống Methadol. Sau khi uống methadol xong N chở H về. Đi đến đường Trần Nhân Tông thuộc phường Ngô Quyền, thành phố Nam Định, H bảo N dừng xe đứng đợi H có việc. H đi bộ vào một ngõ nhỏ, tại đây H hỏi mua ma túy của 01 người đàn ông khoảng 35 tuổi không biết tên, địa chỉ với giá 200.000đ. Sau đó H quay lại chỗ anh N đứng và cả 02 lên xe đi về nhà theo hướng sông Đào. Trên đường đi về H kể với N chuyện vừa mua ma túy và rủ N dùng chung, N đồng ý. H và  đi đến đoạn đê sông Đào thuộc xóm 1, xã T, huyện V thị bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang.

Công an huyện V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ: Thu giữ trên tay phải của Phạm Văn H 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, H khai là heroin vừa mua để sử dụng được niêm phong ký hiệu M1; ngoài ra còn thu giữ của H 01 điện thoại di động hiệu Samsung vỏ màu xanh đen, không có nắp, đã cũ.

Tại bản kết luận giám định số 591/GĐKTHS ngày 07/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1 là chất ma túy; loại: heroin, trọng lượng: 0,114 gam.

Tại cơ quan điều tra Phạm Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 26/QĐ – KSĐT ngày 25/8/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Phạm Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V luận tội và đề nghị HĐXX:

Về tội danh: Giữ nguyên quyết định đã truy tố Phạm Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015: Xử phạt Phạm Xuân H từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS tịch thu cho tiêu hủy 01 đã thu giữ. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung vỏ màu xanh đen đã cũ: Đề nghị trả lại cho Phạm Xuân H nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận.

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 06/7/2017 tại khu vực đê sông Đào thuộc xóm 1, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định, Phạm Xuân H có hành vi tàng trữ trong người 01 gói heroin có trọng lượng 0,114 gam với mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Như vậy hành vi của Phạm Xuân H đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chế độ quản lý, chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 23/5/2013 bị TAND huyện Y, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 24/5/2015 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích; Ngày 20/12/2016 bị Công an phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu luyện bản thân trở thành người có ích cho gia đình, xã hội mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy và cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Như vậy bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó bị cáo được H tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để áp dụng có lợi cho bị cáo về mức hình phạt là hoàn toàn phù hợp (khoản 1 của Điều 249 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định mức hình phạt nhẹ hơn so với khoản 1 Điều 194 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999).

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 76 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu hủy số hêrôin là vật chứng của vụ án.

- Về chiếc điện thoại Samsung vỏ màu xanh đã cũ: Đây là tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Đối với Bùi Văn N: N không biết việc H đi mua ma túy về sử dụng, khi mua xong trên đường về H mới nói với N nên Công an huyện V không xử lý hình sự đối với N là phù hợp.

Án phí HSST bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; xử phạt Phạm Xuân H 30 (Ba mươi) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2017; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự.

+ Tịch thu cho tiêu hủy số heroin mà cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định được đựng trong một phong bì có dấu niêm phong của cơ quan giám định.

+ Trả bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung vỏ màu xanh đen đã cũ nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm, chủng loại như biên bản giao nhận chứng cứ tại chi cục THA dân sự huyện V ngày 31/8/2017).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Xuân H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định  tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự


90
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:29/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vụ Bản - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về