Bản án 29/2017/DS-ST ngày 12/04/2017 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 29/2017/DS-ST NGÀY 12/04/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2016/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2016 về việc tranh chấp “Hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2017/QĐXX-ST ngày 01 tháng 3 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Phạm Thị Phượng L, sinh năm 1973 (có mặt);

Địa chỉ: 57/33/10/5 đường B, phường N, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Phạm Trung H, sinh năm: 1976 (có mặt);

Địa chỉ: ấp M, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Trương Thị Thanh H, sinh năm: 1980 (vắng mặt);

Địa chỉ: 489/11 đường H, phường 13, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Phạm Thị Thu T, sinh năm: 1982 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp M, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Phạm Thị Phượng L trình bày: Qua quen biết ngày 28/4/2011 chị có cho anh Phạm Trung H vay số tiền 80.000.000 đồng. Khi vay có làm biên nhận thời hạn vay là 01 năm, thỏa thuận lãi suất bằng miệng là 4%/tháng đến 5%/tháng. Sau khi vay anh H trả tiền lãi được khoản một năm rưỡi thì ngưng số tiền lãi đã nhận là bao nhiêu thì chị không nhớ rõ. Khi đến hạn trả nợ anh H chỉ trả cho chị được 15.000.000 đồng và còn nợ lại 65.000.000 đồng thì không trả và kéo dài cho đến nay. Nay yêu cầu anh H trả lại số tiền vay còn nợ là 65.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi và yêu cầu anh H trả lại chi phí giám định chữ ký. Không yêu cầu chị Trương Thị Thanh H trả nợ vì chị H không có ký tên vào tờ giấy mượn tiền và cũng không yêu cầu chị Phạm Thị Thu T trả tiền vì chị T chỉ bảo lãnh tiền hụi.

Chứng cứ chứng minh: tờ biên nhận mượn tiền và kết luận giám định.

Tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Trung H trình bày: anh có vay 80.000.00 đồng của chị L vào thời gian như chị L trình bày nhưng sau đó anh đã nhờ chị L chơi dùm anh một phần hụi 5.000.000đồng/tháng và hốt hụi để trả qua tiền vay đang còn nợ của chị L. Sau khi nhờ chị L tham gia chơi hụi dùm thì anh đã giao trách nhiệm đóng hụi chết cho em gái anh là chị T. Đến khi chị L khởi kiện thì anh cũng không liên lạc với chị T để xác định lại vấn đề nợ nần và theo anh được biết hiện nay anh còn nợ lại 7 phần hụi chết với số tiền là 35.000.000 đồng. Ngoài ra không còn nợ tiền gì khác của chị L. Anh H không cung cấp chứng cứ gì tại Tòa.

Chị Trương Thị Thanh H, chị Phạm Thị Thu T đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không thể hiện ý kiến của mình.

Tại phiên tòa sơ thẩm chị L vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi kiện của mình là yêu cầu anh H trả lại số tiền vay còn nợ là 65.000.000 đồng và yêu cầu anh H trả lại toàn bộ chi phí giám định. Thời gian trả chị cho anh H trả 10.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật, số tiền còn lại cho trả mỗi tháng 2.500.000 đồng đến khi hết nợ. Anh H chỉ đồng ý trả 35.000.000 đồng và chi phí giám định.

Đi diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Phía bị đơn anh Phạm Trung H, người có quyền và nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị Thanh H, chị Phạm Thị Thu T không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Áp dụng điều 463, 466 Bộ luật dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị L buộc anh H có trách nhiệm trả cho chị L số tiền 65.000.000 đồng và chi phí giám định là 2.820.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1. Về tố tụng:

1.1 Quan hệ mà các bên đang tranh chấp là “Hợp đồng dân sự vay tài sản” được qui định tại điều 463 Bộ luật Dân sự là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2 Chị Trương Thị Thanh H, chị Phạm Thị Thu T đã được Tòa án tống đạt niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, hai lần thông báo về phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị Trương Thị Thanh H, chị Phạm Thị Thu T theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung:

2.1 Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Phượng L về việc yêu cầu anh Phạm Trung H có trách nhiệm trả lại số tiền vay còn nợ là 65.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị L khởi kiện anh H còn nợ tiền vay là 65.000.000 đồng. Khi anh H vay tiền có ký tên vào giấy mượn tiền. Trong quá trình giải quyết vụ án do anh H không đến Tòa để thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L nên phía chị L có yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết họ tên của anh H tại tờ giấy mượn tiền. Theo kết luận giám định số 658/GĐ-PC54 ngày 02 tháng 12 năm 2016 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Chữ ký và chữ viết họ tên trên giấy mượn tiền so với mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra. Tại phiên tòa hôm nay, phía anh H cho rằng anh có vay 80.000.00 đồng của chị L vào thời gian như chị L trình bày nhưng sau đó anh đã nhờ chị L chơi dùm anh một phần hụi 5.000.000đồng/tháng và hốt hụi để trả qua tiền vay đang còn nợ của chị L. Hiện nay anh còn nợ lại 7 phần hụi chết với số tiền là 35.000.000 đồng. Ngoài ra không còn nợ tiền gì khác của chị L, phía chị L không thừa nhận lời trình bày của anh H, anh H cũng không cung cấp chứng cứ gì khác để chứng minh cho lời trình bày của mình. Do đó lời trình bày của anh H không có cơ sở chấp nhận mà cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L.

Về phần tiền lãi chị L, anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Do chị L không yêu cầu chị Trương Thị Thanh H, chị Phạm Thị Thu T cùng có trách nhiệm trả tiền cho chị nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Từ những nhận định nêu trên nên yêu cầu khởi kiện của chị L là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.

2.2 Xét yêu cầu chị L về việc yêu cầu anh H trả lại chi phí giám định số tiền 2.820.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã niêm yết hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng để anh H đến Tòa trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị L nhưng anh H vẫn không đến Tòa để trình bày ý kiến, do đó chị L có đơn yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký của anh H trong tờ giấy mượn tiền, kết quả giám định đã xác định chữ viết họ tên và chữ ký trong tờ biên nhận mượn tiền là của anh H viết và ký  tên.  Chi  phí  giám định  gồm các  khoản:  phí  giám định  chữ viết, chữ ký là 1.820.000 đồng, phí bồi dưỡng giám định viên số tiền 600.000 đồng, chi phí gửi và lấy kết quả giám định số tiền 400.000 đồng. Tổng chi phí giám định là 2.820.000 đồng. Căn cứ vào Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự nên yêu cầu của chị L về việc yêu cầu anh H trả lại toàn bộ chi phí giám định là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.3 Xét yêu cầu chị L về thời gian trả số tiền vay là 65.000.000 đồng và chi phí giám định 2.820.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay chị L yêu cầu anh H trả số tiền vay còn nợ tổng cộng là 65.000.000 đồng và chi phí giám định 2.820.000 đồng Thời gian trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật trả 10.000.000 đồng. Số tiền còn lại 57.820.000 đồng trả mỗi tháng 2.500.000 đồng cho đến khi hết nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy khi vay tiền hai bên thỏa thuận thời gian trả là 01 năm. Đến nay đã quá thời hạn nhưng anh H không trả mà kéo dài cho đến nay nên yêu cầu của chị L về thời gian trả là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.4 Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của chị L được Hội đồng xét xử chấp nhận nên chị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

2.5 Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng:

QUYẾT ĐỊNH

Điều 463, 466 Bộ luật dân sự;

Điều 26, 35, 147, 161, 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Phượng L.

1.1 Buộc anh Phạm Trung H có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Thị Phượng L số tiền vay tổng cộng là 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng); chi phí giám định tổng cộng là 2.820.000 đồng (hai triệu tám trăm hai chục ngàn đồng). Thời gian trả cụ thể như sau:

+ Trả 10.000.000 đồng(mười triệu đồng) ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

+ Số tiền còn lại là 57.820.000 đồng (năm mươi bảy triệu tám trăm hai chục ngàn đồng) trả mỗi tháng 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng), tháng cuối trả 2.820.000 đồng (hai triệu tám trăm hai chục ngàn đồng) cho đến khi hết nợ. Thời gian thực hiện lần đầu là một tháng sau khi án có hiệu lực pháp luật.

1.2 Kể từ khi chị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh H chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1 Anh Phạm Trung H chịu 3.250.000 đồng (ba triệu hai trăm năm chục ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2 Hoàn lại chị Phạm Thị Phượng L số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 1.625.000 đồng (một triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 41370 ngày 22 tháng 9 năm 2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


257
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2017/DS-ST ngày 12/04/2017 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

Số hiệu:29/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Gò Công - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/04/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về