Bản án 29/2017/DSST ngày 03/08/2017 về tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 29/2017/DSST NGÀY 03/08/2017 VỀ TRANH CHẤP DÂN SỰ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2017/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2017, về tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2017/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2017/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng M, sinh năm 1940

Địa chỉ cư trú: ấp Q, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp;

Địa chỉ tạm trú: Số 516/6, khóm A, phường B, thành phố S, Đồng Tháp

- Bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1959

Địa chỉ cư trú: Số 334/5, ấp H, xã D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; (Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong Đơn khởi kiện ngày 05-01-2017, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Đặng M trình bày:

Trong tháng 02-2015 (AL) bà M cho bà L vay tiền 08 lần, hình thức trả góp: Trong đó 6 lần vay mỗi lần là 5.000.000đồng; 01 lần vay 3.000.000 đồng và 01 lần vay 10.000.000 đồng, tổng cộng 43.000.000đồng. Khi giao tiền, hai bên không làm biên nhận. Theo thỏa thuận bà L sẽ góp hàng ngày và góp trong thời hạn 30 ngày là trả xong vốn và lãi. Cụ thể: Số tiền vay 3.000.000 đồng thì góp mỗi ngày 120.000 đồng; 5.000.000 đồng thì góp mỗi ngày 200.000 đồng; 10.000.000 đồng thì góp mỗi ngày 400.000 đồng. Tuy nhiên, bà L không góp đúng theo thời gian đã thỏa thuận. Ngày 02-10-2015 (AL) bà L bỏ địa phương, không trả tiền cho bà. Do đó, bà làm đơn tố cáo bà L tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sa Đéc. Ngày 31-10-2016, tại Cơ quan cảnh sát điều tra bà L có làm Tờ thỏa thuận thống nhất còn nợ bà M số tiền 26.000.000 đồng và cam kết trả cho bà mỗi tháng 1.000.000 đồng. Ngày 28-11-2016 bà L đã trả cho bà M được 1.000.000 đồng sau đó bà L bỏ trốn cho đến nay.

Nay bà Đặng M yêu cầu bà Lê Thị L trả số tiền là 25.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, không yêu cầu ai khác cùng bà L trả nợ cho cho bà M. Ngoài ra, bà không còn yêu cầu nào khác.

Đối với bị đơn bà Lê Thị L:

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án kèm theo đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập nhiều lần nhưng bà L không đến Tòa án để trình bày ý kiến. Tại phiên tòa hôm nay, bà L cũng không có mặt để trình bày ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn bà Lê Thị L vắng mặt tuy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ là không chấp hành quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Căn cứ vào Tờ giao nhận tiền ngày 28-11-2016, bà L thừa nhận và thống nhất nợ bà M 25.000.000 đồng. Xét yêu cầu của bà M là có căn cứ. Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà Lê Thị L tuy đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn, bà Đặng M đồng ý và yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn. Căn cứ Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu của bà Đặng M, yêu cầu bà Lê Thị L trả cho bà M số tiền 25.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, không yêu cầu ai khác liên đới cùng bà L trả nợ cho bà M.

Hội đồng xét xử xét thấy:

[3] Việc bà Đặng M cho bà Lê Thị L vay tiền 08 lần, hình thức trả góp, tổng số tiền 43.000.000 đồng tuy không có giấy tờ, không có biên nhận, nhưng đến ngày 31-10-2016 hai bên có làm Tờ thỏa thuận nội dung bà L thống nhất còn nợ bà M số tiền 26.000.000 đồng . Đến ngày 28-11-2016, bà L có thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà M 1.000.000 đồng. Khi trả tiền, hai bên có làm Tờ giao nhận tiền tại Công an thành phố Sa Đéc, thống nhất số nợ bà L còn nợ bà M 25.000.000 đồng. Sau đó, bà L không tiếp tục thực hiện việc trả nợ cho bà M. Tòa án đã niêm yết đầy đủ văn bản tố tụng của Tòa án, tài liệu, chứng cứ của bà M cho bà L biết nhưng bà L không có văn bản ý kiến nộp cho Tòa án phản bác yêu cầu, chứng cứ của bà M.

[4] Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự : "Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó."; Và tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: "Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh". Do đó, căn cứ tài liệu, chứng cứ là Tờ giao nhận tiền ngày 28-11-2016, Hội đồng xét xử xác định bà L có nợ bà M 25.000.000 đồng.

[5] Theo quy định tại Điều 474, 476 của Bộ luật dân sự năm 2005, bà L phải có nghĩa vụ trả tiền vốn vay, tiền lãi cho bà M khi bà M có yêu cầu. Tuy nhiên, bà M chỉ yêu cầu bà L trả tiền vốn, không yêu cầu tính lãi. Xét thấy, việc bà M không yêu cầu tính lãi là tự nguyện, có lợi cho bà L, yêu cầu của bà M là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Đối với bà Lê Thị L: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã đến nhà bà L xác minh, tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng, giấy triệu tập của Tòa án đối với bà L, nhưng bà L không đến Tòa án trình bày ý kiến. Ông Nguyễn Văn P, chồng bà L cung cấp thông tin bà L bỏ đi từ khoảng tháng 10- 2016, hiện bà L không có mặt ở nhà, đi đâu không rõ, gia đình không liên lạc được. Căn cứ kết quả xác minh ngày 16-5-2017 của Công an xã Tân Phú Đông; đương sự Lê Thị L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà 334/5, ấp H, xã D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, nhưng hiện tại bà L không có mặt ở địa phương, bỏ nhà đi từ khoảng tháng 12-2016. Căn cứ quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc bà L thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc gắn liền với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40, Điểm b Khoản 2 Điều 277 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ kiện vắng mặt bà L theo thủ tục chung. Buộc bà L phải có nghĩa vụ trả cho bà Đặng M số tiền vốn vay 25.000.000 đồng.

[7] Đối với ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn chịu toàn bộ án phí đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 147, Khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 471, 474, 476, 477 Bộ luật Dân sự năm 2005; Khoản 3 Điều 40, Điểm b Khoản 2 Điều 277, Khoản 2 Điều 468, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05- 5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Đặng M về việc yêu cầu bà Lê Thị L trả cho bà M tiền vốn vay 25.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Buộc bà Lê Thị L trả cho bà Đặng M số tiền vốn vay 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Về án phí: Bà Lê Thị L phải nộp 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Đặng M được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp ngày 16-01-2017 theo biên lai số 06370 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sa Đéc.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả của người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7bvà Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn. Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.

Riêng bị đơn bà Lê Thị L vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.


69
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về