Bản án 29/2015/DSPT ngày 18/03/2015 về tranh chấp thừa kế tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 29/2015/DSPT NGÀY 18/03/2015 VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN 

Ngày 18 tháng 3 năm 2015 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2014/DS-PT ngày 03 tháng 6 năm 2014 do bản án dân sự sơ thẩm số 21/2014/DSST ngày 08/10/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2015/QĐ-PT ngày 15 tháng 01 năm 2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình Mùi, sinh năm 1943; trú tại: khu phố 1, thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

*  Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Du, sinh năm 1957; trú tại: Cụm 3, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội;

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Mạnh Thắng - Văn phòng luật sư Thắng, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

*  Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hoàng Thị Thông, sinh năm 1941;

2. Ông Nguyễn Đình Thín, sinh năm 1960;

3. Bà Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1967;

4. Bà Nguyễn Thị Nga, sinh năm 1964;

5. Bà Hoàng Thị Nhu, sinh năm 1963;

6. Anh Nguyễn Đình Chung, sinh năm 1981;

7. Anh Nguyễn Đình Nam, sinh năm 1984;

Đều trú tại: Cụm 3, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

8. Bà Nguyễn Thị Gái, sinh năm 1949; trú tại: Cụm 4, xã Liên Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

9. Bà Nguyễn Thị Thạnh, sinh năm 1952; trú tại: Cụm 2, xã Liên Hà, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

10. Bà Nguyễn Thị Hạnh, sinh năm 1954; trú tại: Thôn Đông Ba, xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

11. Bà Nguyễn Thị Dần, sinh năm 1962; trú tại: Cụm 1, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

12. Bà Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1967; trú tại: Cụm 3, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

13. Bà Hoàng Thị Minh, sinh năm 1958;

14. Anh Nguyễn Đình Dương, sinh năm 1982;

15. Chị Nguyễn Thị Duyên, sinh năm 1984;

16. Anh Nguyễn Đình Giang, sinh năm 1987;

17. Ông Nguyễn Đình Dậu, sinh năm 1959;

18. Bà Nguyễn Thị Tho, sinh 1961;

19. Anh Nguyễn Đình Đào;

20. Anh Nguyễn Đình Ánh;

Cùng trú tại: Cụm 3, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

21. Chị Nguyễn Lệ Giang, sinh năm 1973; trú tại: Số 5 Tràng Thi, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

22. Anh Nguyễn Ngọc Giao, sinh năm 1975;

23. Anh Nguyễn Minh Nam, sinh năm 1983;

Cùng trú tại: 020 lô F, tổ 27, cư xá Thanh Đa, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

24. Ông Nguyễn Đình Hào, sinh năm 1939;

25. Chị Nguyễn Thị Dung, sinh năm 1967;

Cùng trú tại: Cụm 3, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

26. UBND huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Chu Đức Hiền - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường.

NHẬN THẤY

* Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn là ông Nguyễn Đình Mùi trong quá trình tố tụng trình bày:

Bố ông là cụ Nguyễn Đình Hợi chết năm 1988 không để lại di chúc. Cụ Hợi có 03 người vợ, vợ cả là cụ Hoàng Thị Còm (chết năm 1945 không để lại di chúc), vợ hai là cụ Trương Thị Mùi (chết năm 1950 không để lại di chúc), vợ ba là cụ Đỗ Thị Hành (chết năm 1970 không để lại di chúc). Ngoài 3 người vợ trên cụ Hợi không còn người vợ nào khác.

Cụ Hợi và cụ Còm sinh được 3 người con là ông Nguyễn Đình Thìn (ông Thìn là liệt sỹ hy sinh năm 1971), ông Nguyễn Đình Tuất (ông Tuất chết năm 2007) và ông là Nguyễn Đình Mùi. Ông Nguyễn Đình Thìn có vợ là bà Hoàng Thị Thông và có 3 người con là anh Nguyễn Đình Thín, chị Nguyễn Thị Nga, và chị Nguyễn Thị Hằng. Ông Nguyễn Đình Tuất có vợ là bà Nguyễn Thúy Oanh (chết năm 2004). Ông Tuất, bà Oanh chỉ có 3 người con là chị Nguyễn Lệ Giang, anh Nguyễn Ngọc Giao và anh Nguyễn Minh Nam.

Cụ Hợi và cụ Trương Thị Mùi sinh được 01 người con là bà Nguyễn Thị Gái.

Cụ Hợi và cụ Đỗ Thị Hành sinh được 06 người con là bà Nguyễn Thị Thạnh, bà Nguyễn Thị Hạnh, ông Nguyễn Đình Du, ông Nguyễn Đình Dậu, bà Nguyễn Thị Dần, bà Nguyễn Thị Yến.

Trước khi chết cụ Hợi để lại 1.290m2 đất thổ cư tại cụm 3, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Toàn bộ đất đai của cụ Hợi để lại đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1988, cụ thể đứng tên anh Nguyễn Đình Thín 360m2; đứng tên ông Nguyễn Đình Dậu 480m2; đứng tên cụ Nguyễn Đình Hợi 450m2. Ông Mùi chỉ yêu cầu chia thừa kế diện tích đất, còn các tài sản trên các thửa đất là nhà cửa cây cối do các gia đình ông Du, ông Dậu, anh Thín xây dựng và trồng cây ông không yêu cầu chia. Từ năm 1997 ông đã có đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ Hợi để lại. Tòa án cũng đã giải quyết nhiều lần nhưng cho đến nay vẫn chưa dứt điểm. Nay ông tiếp tục viết đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội chia số diện tích đất 1.290m2 đất thổ cư tại cụm 3, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Song tại phiên tòa sơ thẩm, ông Mùi thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ đề nghị chia diện tích 570m2 do ông Du đang quản lý, còn diện tích đất đứng tên ông Dậu, diện tích đất đứng tên anh Thín thì ông không yêu cầu chia thừa kế nữa. Ngoài nội dung trên ông không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn là ông Nguyễn Đình Du trình bày:

Ông thống nhất về quan hệ huyết thống của bố mẹ ông như lời khai của ông Mùi.

Về nguồn gốc đất: Bố mẹ ông được các cụ để lại 1.290m2 đất ở và đất ao. Năm 1981, cụ Hợi đã triệu tập 10 người con họp lại để phân chia đất cho các con. Cụ Hợi cho anh Nguyễn Đình Thín (là con trai trưởng ông Thìn, bà Thông) 360m2; cho ông Nguyễn Đình Dậu 360m2; ông Mùi có ý kiến là ông đi thoát ly gia đình từ nhỏ, và định cư ở thị trấn Hương Canh, tỉnh Vĩnh Phúc nên ông Mùi không nhận phần đất của mình. Cụ Hợi sống chung với vợ chồng ông nên cụ Hợi giao cho ông 450m2 đất ở và 120m2 đất ao và giao trách nhiệm cho ông phải thờ cúng tổ tiên, lo ma chay khi cụ Hợi qua đời và giao cả cho ông nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Gia đình ông đã ăn ở ổn định trên khu đất được cụ Hợi cho từ mấy chục năm nay, mọi công trình tài sản trên đất là do vợ chồng ông xây dựng lên. Nay ông Mùi có đơn khởi kiện chia thừa kế đất đai do bố mẹ để lại, ông không đồng ý chia vì bố ông đã cho ông diện tích 450m2 đất ở và 120m2 đất ao.

* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày:

Ông Nguyễn Đình Dậu công nhận lời khai của ông Mùi và ông Du về quan hệ huyết thống của bố mẹ ông. Bố ông cho ông 480m2 đất, ông đã ăn ở ổn định từ mấy chục năm nay, mảnh đất bố ông cho, ông đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1988, mọi công trình tài sản trên đất là do vợ chồng ông tôn tạo nên. Nay ông Mùi có đơn khởi kiện chia thừa kế đất đai do bố ông để lại, ông không đồng ý chia phần đất bố ông đã cho ông vì đất đã thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông. Còn phần đất ông Du quản lý đứng tên cụ Hợi, nay ông Mùi yêu cầu chia thừa kế diện tích đất này thì xin đề nghị từ chối hưởng thừa kế ở diện tích đất cụ Hợi đứng tên, mà ông xin nhường kỷ phần thừa kế của mình cho ông Du.

Anh Nguyễn Đình Thín thống nhất về quan hệ huyết thống như ông Mùi đã khai. Về nguồn gốc đất: Cụ Nguyễn Đình Hợi để lại 1.290m2 đất, khi chết cụ Hợi không để lại di chúc, nay ông Mùi yêu cầu chia thừa kế diện tích đất này xin đề nghị từ chối hưởng thừa kế ở diện tích đất cụ Hợi đứng tên, mà anh xin nhường kỷ phần thừa kế của mình cho ông Du.

Về diện tích đất đai gia đình anh đang quản lý: Khoảng năm 1976 cụ Hợi cho mẹ con anh thửa đất ao, diện tích khoảng 1 sào, khoảng năm 1990 mẹ con anh mua thêm 200m2 đất ao của xã để sử dụng, phần đất ao mua của xã mẹ con anh đã đổ đất và hiện nay làm lối đi vào nhà. Do vậy, tổng diện tích đất của gia đình hiện nay, kể cả phần đất cụ Hợi cho và đất mẹ con anh mua của xã là 600m2. Toàn bộ công trình trên đất là do mẹ con anh làm nên. Nay xảy ra tranh chấp giữa các người con của cụ Hợi, thì phần đất của anh mà trước đây là cái ao cụ Hợi cho mẹ con anh, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh từ năm 1988 thì anh không đồng ý chia, còn phần đất đứng tên cụ Nguyễn Đình Hợi hiện nay ông Nguyễn Đình Du đang quản lý, thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu anh còn được hưởng thừa kế ở phần đất đứng tên cụ Hợi do ông Du quản lý thì cũng tự nguyện không lấy nữa, mà nhượng lại cho các chú.

Bà Nguyễn Thị Gái thống nhất về quan hệ huyết thống, nguồn gốc đất của bố mẹ để lại như ông Mùi đã khai. Nay ông Nguyễn Đình Mùi có đơn khởi kiện yêu cầu chia 1.290m2 đất của cụ Hợi để lại cho các con, bà đồng ý. Về kỷ phần của bà được hưởng, bà xin tự nguyện nhường cho anh Nguyễn Đình Thín (là cháu trưởng) để làm nơi thờ cúng các cụ. Vì bận công việc, bà ủy quyền cho cháu trưởng là Nguyễn Đình Thín thay mặt giải quyết mọi công việc tại Tòa án, khi có kết quả giải quyết thì đề nghị Tòa án giao cho anh Thín, anh Thín sẽ có trách nhiệm giao cho bà.

Các bà Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Dần, Nguyễn Thị Yến thống nhất về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc đất đai như ông Mùi đã khai. Nay ông Mùi có đơn khởi kiện chia thừa kế đất đai do cụ Hợi để lại, các bà không đồng ý chia vì mảnh đất đó cụ Hợi đã cho ông Du. Nếu Tòa án giải quyết, phải chia tài sản của cụ Hợi để lại cho các con thì kỷ phần của các bà xin nhường cho ông Du, vì ông Du phải thờ cúng bố mẹ và trông nom cụ Hợi tới lúc qua đời.

Bà Hoàng Thị Thông là vợ của ông Nguyễn Đình Thìn (là liệt sỹ), con dâu cụ Nguyễn Đình Hợi. Bà lấy ông Thìn năm 1959, khi bà lấy ông Thìn thì vợ chồng bà ở chung với bố mẹ chồng là cụ Hợi và cụ Hành (vợ 3 của cụ Hợi) vì ở chung với bố mẹ, nhà cửa chật chội, nên bà đã mua mảnh đất nơi khác để ở, không thuộc đất của cụ Hợi. Năm 1972 ông Thìn hy sinh, khoảng năm 1976 cụ Hợi cho mẹ con bà cái ao, diện tích khoảng một sào. Do không có tiền để san lấp và làm nhà, bà đã bán căn nhà cũ để lấy tiền về lấp ao của xã để sử dụng, phần đất ao mua của xã mẹ con bà đã đổ đất và hiện nay là lối đi vào nhà. Do vậy tổng diện tích đất của gia đình bà hiện nay, kể cả phần đất cụ Hợi cho và đất mua của xã là 600m2. Toàn bộ công trình trên đất là do mẹ con bà làm nên. Nay xảy ra tranh chấp giữa các người con của cụ Hợi, thì phần đất của bà mà trước đây là cái ao cụ Hợi cho, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh Nguyễn Đình Thín (con trai bà) thì bà không đồng ý chia, còn phần đất đứng tên cụ Nguyễn Đình Hợi hiện nay ông Nguyễn Đình Du (em chồng bà) đang quản lý thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì tuổi cao sức yếu, bà ủy quyền cho con trai là Nguyễn Đình Thín thay mặt giải quyết mọi công việc tại Tòa án, khi có kết quả giải quyết thì đề nghị Tòa án giao cho anh Thín, anh Thín sẽ có trách nhiệm giao cho bà.

Chị Hoàng Thị Nhu là vợ của anh Nguyễn Đình Thín, con dâu ông Nguyễn Đình Thìn, bà Hoàng Thị Thông thống nhất theo lời khai của anh Thín và lời khai của bà Thông.

Các chị Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Thị Hằng là con gái ông Nguyễn Đình Thìn, bà Hoàng Thị Thông đều thống nhất theo lời khai của anh Thín và lời khai của bà Thông.

Các anh chị Nguyễn Lệ Giang, Nguyễn Ngọc Giao, Nguyễn Minh Nam là con ông Nguyễn Đình Tuất, bà Nguyễn Thúy Oanh cho rằng nếu các anh chị được hưởng trong phần thừa kế của bố được hưởng, thì kỷ phần này các anh chị không nhận mà đề nghị Tòa án giao lại cho anh Thín là cháu trưởng để làm nơi cúng tổ tiên. Vì bận công việc, các anh chị xin được vắng mặt tại các buổi hòa giải cũng như xét xử tại Tòa án.

Bà Hoàng Thị Minh là vợ của ông Nguyễn Đình Du, con dâu cụ Nguyễn Đình Hợi thống nhất theo lời khai của ông Du.

Các anh chị Nguyễn Đình Dương, Nguyễn Thị Duyên, Nguyễn Đình Giang là con ông Nguyễn Đình Du, bà Hoàng Thị Minh đều thống nhất theo lời khai của bố mẹ. Nay xảy ra tranh chấp đất đai giữa các con cụ Hợi, các anh chị là cháu, do vậy mọi quyết định là của bố các anh chị, các anh chị không có ý kiến gì.

Bà Nguyễn Thị Tho là vợ của ông Nguyễn Đình Dậu, con dâu cụ Nguyễn Đình Hợi. Bà thống nhất theo lời khai của ông Dậu. Nay xảy ra tranh chấp giữa các con của cụ Hợi, thì phần đất của vợ chồng bà trước đây cụ Hợi cho, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Đình Dậu, thì bà không đồng ý chia.

Các anh Nguyễn Đình Đào, Nguyễn Đình Ánh là con ông Nguyễn Đình Dậu, bà Nguyễn Thị Tho đều thống nhất theo lời khai của bố mẹ. Nay xảy ra tranh chấp đất đai giữa các con cụ Hợi, các anh là cháu, do vậy mọi quyết định là của bố các anh, các anh không có ý kiến gì.

Ông Nguyễn Đình Hào và chị Nguyễn Thị Dung trình bày: Năm 1994, gia đình ông có mua của ông Nguyễn Đình Dậu ở cùng xã mảnh đất diện tích 93,2m2. Sau khi ông Hào mua bán xong thì giao cho chị Dung trực tiếp quản lý và sử dụng mảnh đất đó. Hiện nay mảnh đất gia đình ông Hào mua của ông Dậu 93,2m2 liền kề với mảnh đất này là mảnh đất ruộng rau 5% của gia đình ông. Tổng diện tích hiện nay chị Dung quản lý sử dụng khoảng 190m2. Khi ông mua đất của ông Dậu đã lập thành văn bản và có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Liên Trung ngày 30/9/1994. Hiện nay việc mua bán đất đai giữa gia đình ông và ông Dậu đã hoàn tất, gia đình ông đã quản lý sử dụng ổn định đất mua từ năm 1994 đến nay. Nay xảy ra tranh chấp đất đai giữa anh em ông Dậu, đề nghị Tòa án công nhận việc mua bán giữa gia đình ông Dậu với gia đình ông.

    Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2014/DSST ngày 26/6/2013 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Áp dụng các Điều 674; 675; 676; 677 Bộ luật dân sự. Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Điều 25, 131 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 Pháp lệnh về án phí lề phí Tòa án, xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu chia thừa kế của ông Nguyễn Đình Mùi.

- Xác nhận hàng thừa kế theo pháp luật của cụ Hợi gồm có: ông Nguyễn Đình Thìn, ông Nguyễn Đình Mùi, ông Nguyễn Đình Tuất, ông Nguyễn Đình Du, ông Nguyễn Đình Dậu, bà Nguyễn Thị Gái, bà Nguyễn Thị Thạnh, bà Nguyễn Thị Hạnh, bà Nguyễn Thị Dần, bà Nguyễn Thị Yến.

Ông Nguyễn Đình Thìn (chết năm 1971) thừa kế thế vị của ông Thìn là anh Nguyễn Đình Thín, chị Nguyễn Thị Hằng, chị Nguyễn Thị Nga.

Ông Nguyễn Đình Tuất (chết năm 2007) người thừa kế của ông Tuất là chị Nguyễn Lệ Giang, anh Nguyễn Ngọc Giao, anh Nguyễn Minh Nam.

- Xác nhận bà Nguyễn Thị Gái, chị Nguyễn Lệ Giang, anh Nguyễn Ngọc Giao, anh Nguyễn Minh Nam nhường kỷ phần thừa kế cho anh Nguyễn Đình Thín.

- Xác nhận bà Nguyễn Thị Thạnh, bà Nguyễn Thị Hạnh, ông Nguyễn Đình Dậu, bà Nguyễn Thị Dần, bà Nguyễn Thị Yến nhường kỷ phần thừa kế cho ông Nguyễn Đình Du.

- Xác nhận di sản thừa kế của các cụ để lại còn 450m2 đất tại thôn Hạ, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội là di sản thừa kế chia theo pháp luật.

+ Giao cho ông Nguyễn Đình Mùi được: 93,75m2. Theo giá trị của Hội đồng định giá bằng 149.062.000 đồng. (Phần đất giao cho ông Nguyễn Đình Mùi giới hạn bởi các điểm 10’ - 10 - 11 - 12 - 12’ - 13’).

+ Giao cho anh Nguyễn Đình Thín quản lý phần của bà Gái + ông Tuất = 131,25m2. Theo giá của Hội đồng định giá bằng 208.687.500 đồng. (Phần đất giao cho anh Nguyễn Đình Thín giới hạn bởi các điểm 9’ - 10’ - 13’ - 12’ - 13’ - 14’).

+ Giao cho ông Nguyễn Đình Du quản lý phần của 06 anh chị em gồm: Ông Du + ông Dậu + bà Thạnh + bà Hạnh + bà Dần + bà Yến = 225m2. Theo giá của Hội đồng định giá bằng 357.750.000 đồng. Trên diện tích đất giao cho ông Du có ngôi nhà ở cấp 4, nhà bếp, nhà vệ sinh, nhà chăn nuôi, sân gạch, tường bao, cây cối... là tài sản của gia đình ông Du xây dựng nên.

+ Ông Nguyễn Đình Du được tạm giao thêm phần diện tích đất 120m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Phần diện tích đất giao cho ông Nguyễn Đình Du giới hạn bởi các điểm 14’ - 1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 9’). (Số đất giao và tạm giao cho ông Du là 345m2 nhưng trên thực tế diện tích thửa đất giao cho ông Du 349,3m2).

Phần đất giao cho ông Du, ông Mùi, anh Thín ranh giới của từng người theo sơ đồ kèm theo bản án. Các bên tự mở lối đi riêng.

Ông Du, ông Mùi, anh Thín có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

- Giữ nguyên diện tích đất của gia đình anh Nguyễn Đình Thín và diện tích đất của gia đình ông Nguyễn Đình Dậu đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1988. Trên phần đất đứng tên ông Dậu, anh Thín có các công trình nhà ở, công trình phụ, các vật kiến trúc khác cùng cây cối là tài sản riêng của các gia đình.

- Ông Nguyễn Đình Du có trách nhiệm di chuyển số cây cối và ngôi nhà cấp 4 (nhà chăn nuôi) trên đất để giao đất cho ông Mùi, anh Thín theo kỷ phần được hưởng. Các bên đương sự có trách nhiệm đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/4/2014, bị đơn là ông Nguyễn Đình Du kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn là ông Nguyễn Đình Du giữ nguyên kháng cáo và nêu rõ: diện tích 450m2 đất ông được bố cho, nếu phải chia thừa kế thì đề nghị chia toàn bộ diện tích 1.290m2 đất bố mẹ ông để lại và yêu cầu xem xét đến công sức tôn tạo đất, xem xét phần tài sản của ông trên đất đã chia cho các đồng thừa kế khác. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm: Trong suốt quá trình khởi kiện ông Mùi yêu cầu chia toàn bộ di sản thừa kế là 1.290m2 đất. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Mùi chỉ yêu cầu chia thừa kế diện tích đất ông Du đang quản lý, ông Du không chấp nhận, lẽ ra phải chia toàn bộ di sản. Nếu chỉ chia diện tích đất ông Du đang quản lý là ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình ông Du; tại các phiên tòa, ông Du đều yêu cầu xem xét phần công sức tôn tạo đất nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét; đất của ông Du quản lý có phần diện tích ao chưa được xác định rõ vị trí; trên phần đất giao cho ông Mùi, anh Thín quản lý có tài sản của ông Du, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Du tự di dời là chưa đảm bảo quyền lợi của ông Du. Với những căn cứ đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại phiên tòa phúc thẩm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, cụ thể: chưa thu thập văn bản ủy quyền của UBND thành phố Hà Nội cho UBND huyện Đan Phượng; án sơ thẩm xác định diện tích 450m2 đất là di sản thừa kế của cụ Hợi, tuy nhiên hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện thửa đất có tứ cận thế nào, ranh giới diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 450m2 với diện tích đất chưa được cấp là 120m2; chưa có xác minh với UBND cấp có thẩm quyền về diện tích 120m2 đất ao để xác định có phải là di sản thừa kế của cụ Hợi hay không; không mở thừa kế khi cụ Mùi chết là chưa đảm bảo công bằng; chưa xác minh, thu thập chứng cứ về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Đình Dậu và anh Nguyễn Đình Thín có đúng qui định pháp luật không; quá trình giải quyết vụ án, ông Du có yêu cầu phản tố nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn ông Du làm thủ tục yêu cầu phản tố là chưa xem xét giải quyết triệt để. Từ đó thấy rằng những vi phạm trên của cấp sơ thẩm là nghiêm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào lời trình bày, tranh luận của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

XÉT THẤY

          Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp về thừa kế và còn thời hiệu để thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990; Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 5 Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn nằm trong thời hạn luật định, nội dung phù hợp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Các bên đương sự có mặt hoặc ủy quyền hợp pháp. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các bên không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

          Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đều thừa nhận quan hệ huyết thống như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đó là: hàng thừa kế thứ nhất của các cụ Nguyễn Đình Hợi, cụ Hoàng Thị Còm (vợ cả), cụ Trương Thị Mùi (vợ hai), cụ Đỗ Thị Hành (vợ ba) gồm 10 người con là các ông, bà: Nguyễn Đình Thìn, Nguyễn Đình Tuất, Nguyễn Đình Mùi, Nguyễn Thị Gái, Nguyễn Thị Thạnh, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Đình Du, Nguyễn Đình Dậu, Nguyễn Thị Dần, Nguyễn Thị Yến (trong đó có hai ông là Nguyễn Đình Thìn là liệt sỹ hy sinh năm 1972, ông Nguyễn Đình Tuất chết năm 2007, thừa kế thế vị của hai ông Thìn, Tuất là vợ và các con của hai người này). Việc xác định hàng thừa kế, thừa kế thế vị trong vụ án như đã nêu trên là đúng pháp luật.

          Về di sản thừa kế: Theo yêu cầu khởi kiện ban đầu, nguyên đơn cho rằng di sản của bố mẹ nguyên đơn để lại là 1.290m2 đất, trên đất có một ngôi nhà tre 5 gian lợp rạ, tường đất tại thôn Hạ, xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Năm 1988, cụ Nguyễn Đình Hợi còn sống đã chia cho mẹ con bà Hoàng Thị Thông (là vợ, con ông Nguyễn Đình Thìn) 360m2 đất ao, chia cho ông Nguyễn Đình Dậu (con trai) 480m2 đất vườn. Anh Nguyễn Đình Thín (là con bà Thông) và ông Nguyễn Đình Dậu đã được UBND thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đối với các diện tích đất này. Phần đất còn lại là 450m2 được cụ Hợi đứng tên kê khai và được UBND thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Đình Hợi. Diện tích đất này do ông Nguyễn Đình Du ở cùng cụ Hợi quản lý và sử dụng từ năm 1988 đến nay. Quá trình sử dụng đất, ông Du còn được cụ Hợi giao cho 120m2 đất ao nhưng diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn yêu cầu được chia toàn bộ ba diện tích đất mang tên anh Thín, ông Dậu và cụ Hợi với tổng diện tích là 1.290m2. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu chia diện tích đất do ông Nguyễn Đình Du quản lý có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Nguyễn Đình Hợi. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản thừa kế của cụ Hợi là diện tích 450m2 đất do ông Nguyễn Đình Du quản lý, sử dụng để chia thừa kế cho các đồng thừa kế theo yêu cầu của nguyên đơn là đúng qui định của pháp luật.

          Qua kiểm tra việc Tòa án cấp sơ thẩm mở các lần thừa kế, xác định các hàng thừa kế được hưởng thấy rằng việc chia thừa kế bằng diện tích đất là di sản của cụ Hợi của cấp sơ thẩm là chưa đúng. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ mở thừa kế ba lần để xác định diện tích đất ông Nguyễn Đình Mùi được hưởng là 93,65m2; anh Thín được quản lý sử dụng diện tích đất của các đồng thừa kế là ông Thìn, ông Tuất, bà Gái là 131,25m2; ông Du được quản lý phần tài sản của 06 anh chị em ông gồm: ông Du, ông Dậu, bà Thạnh, bà Hạnh, bà Dần, bà Yến bằng 225m2 đất và tạm giao cho ông Du quản lý diện tích đất 120m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tổng diện tích đất ông Du được giao quản lý, sử dụng là 345m2 (trên thực tế đất giao cho ông Du là 349,3m2) chia như vậy đã bỏ qua lần mở thừa kế khi cụ Trương Thị Mùi chết. Với nhận định “Thời gian cụ Mùi sống với cụ Hợi rất ngắn, công sức đóng góp với cụ Hợi chưa nhiều” để bỏ qua lần mở thừa kế này. Việc không mở thừa kế khi cụ Mùi chết của Tòa án cấp sơ thẩm đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế được hưởng thừa kế theo pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã nhận định “Trên phần đất giao cho ông Mùi và anh Thín có một số cây cối do ông Du trồng và ngôi nhà tạm do ông Du làm, cần buộc ông Du và gia đình tự di chuyển cây cối và tháo dỡ một phần công trình phụ nằm trên phần đất giao cho anh Thín, ông Mùi”. Với quan điểm đó, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã không xem xét đến công duy trì, tôn tạo đất của gia đình ông Du từ năm 1988 đến nay đồng thời lại buộc gia đình ông tự tháo dỡ công trình phụ cùng di dời cây trên đất là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông Du.

Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đã nêu ra những vi phạm của cấp sơ thẩm ngoài những vi phạm như đã phân tích trên và đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Bị đơn là ông Nguyễn Đình Du nhất quyết cho rằng nếu chia thừa kế ông cũng nhất trí chia nhưng phải chia toàn bộ di sản thừa kế là 1.290m2 đất,  nếu chỉ chia phần đất ông đang quản lý là không công bằng. Ông Du cũng cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, ông luôn đề nghị xem xét mọi quyền lợi của ông trên đất nhưng không được giải quyết và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Xét thấy, những thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm như đã nêu trên mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần phải hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Kháng cáo của bị đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm của các đương sự sẽ được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

  Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 277; khoản 3 Điều 132 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 21/2014/DS-ST ngày 10/04/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết lại vụ án.

2. Hoàn trả ông Nguyễn Đình Du 200.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số 0009585 ngày 28/4/2014 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


386
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về