Bản án 290/2019/HNGĐ-ST ngày 07/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 290/2019/HNGĐ-ST NGÀY 07/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 07 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 996/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 353/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987

Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Lê Xuân C, sinh năm 1982

Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Do quen biết và được gia đình đồng ý nên bà Nguyễn Thị T với ông Lê Xuân C xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới; có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ vào ngày 17/7/2008. Đời sống chung vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng đến tháng 9 năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông C không lo làm ăn, nghề nghiệp không ổn định. Nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông C nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông C. Về con chung: Bà T với ông C có một con chung tên Lê Quốc Tr, sinh ngày 03/9/2008; ông C đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà T đồng ý giao con cho ông C nuôi dưỡng; bà T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà T xác định không có nợ chung với ông C.

Bị đơn ông Lê Xuân C vắng mặt nhưng có Bản tự khai ngày 21/10/2019 trình bày:

Ông C thống nhất lời trình bày của bà T về việc xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn và thừa nhận đời sống chung vợ chồng có mâu thuẫn do nguyên nhân kinh tế. Bà T yêu cầu ly hôn thì ông C đồng ý.

Về con chung: Ông C với bà T có một con chung tên Lê Quốc Tr, sinh ngày 03/9/2008; ông C đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn ông C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con; không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Ông C xác định không có nợ chung với bà T.

Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bị đơn ông C vắng mặt nên vụ án không hòa giải được và Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà T và bị đơn ông C đều vắng mặt, nhưng đương sự có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tố tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Xuân C. Căn cứ theo Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “tranh chấp ly hôn”, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Nguyên đơn bà T, bị đơn ông C đều vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng đương sự có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ. Căn cứ theo Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Theo Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì nguyên đơn bà T yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về tình cảm vợ chồng; nuôi con chung; không yêu cầu về cấp dưỡng; không tranh chấp về tài sản chung và thừa nhận không có nợ chung với bị đơn. Bị đơn ông C không có yêu cầu phản tố trong vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giải quyết hậu quả theo quy định pháp luật.

[4] Theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và sự thừa nhận của đương sự thì bà T và ông C xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đức Hòa vào ngày 17/7/2018 là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.

[5] Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T với ông C là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên gây gổ; không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng và khi bà T yêu cầu ly hôn thì ông C đồng ý. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T với ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T đối với ông C.

[6] Theo các Giấy khai sinh và sự thừa nhận của đương sự thì bà T và ông C có một con chung tên Lê Quốc Tr, sinh ngày 03/9/2008; ông C đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà T đồng ý để ông C được quyền tiếp tục nuôi con và theo nguyện vọng của cháu Tr muốn được sống với cha sau khi cha mẹ ly hôn. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần giao cháu Tr cho ông C tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông C không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên bà T không phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

[8] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[9] Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nợ chung với nhau nên không đề cập.

[10] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Căn cứ vào Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 và khoản 1 Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Lê Xuân C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lê Xuân C.

Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Xuân C có một con chung tên Lê Quốc Tr, sinh ngày 03/9/2008; ông C đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, ông C được quyền tiếp tục nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nợ chung.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai số 0003647 ngày 16 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang thi hành án phí.

Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 290/2019/HNGĐ-ST ngày 07/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:290/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về