Bản án 288/2017/HSST ngày 27/11/2017 về tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 288/2017/HSST NGÀY 27/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 45/2017/HSST, ngày 07 tháng 11 năm 2017 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn Q - Sinh năm 1975.

HKTT: Số 42 phố Ng, phường Tr, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Văn hóa: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn S (Đã chết) và bà Đồng Thị Th (Đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị Y, có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2004;Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/9/2017 đến ngày 29/9/2017 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 09h30 phút ngày 23/9/2017, tổ công tác Công an phường Đ, thành phố H đang làm nhiệm vụ tại đường K, phường Đ, thành phố H thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Q đang tàng trữ trong người 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa15 gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ ô, kích thước mỗi gói khoảng 0,5x1,5cm, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột màu trắng. Q khai nhận đó là heroine. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ túi nilon chứa ma túy trên.

Tại bản kết luận giám định số 2082/MT-PC54 ngày 25/9/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có trọng lượng là 0,584g, loại heroine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Q khai nhận: Khoảng 8h ngày 23/9/2017 Q đi xe ôm từ nhà đến khu vực cầu L, đối diện Công ty nước mắm Th, phường S, thành phố H. Tại đây Q gặp một nam thanh niên khoảng 30 tuổi, xưng tên là H, không biết địa chỉ ở đâu. Q đã hỏi mua heroine của H 15 gói với giá 1.200.000đ. Sau khi mua xong, Q cất túi ma túy vào túi quần soóc bên phải đang mặc rồi quay về khu vực trước đền nhà Lê, thuộc phố Ki, phường Đ thì bị tổ công tác Công an phường Đ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Đối với người thanh niên tên H đã bán ma túy cho Q, Cơ quan điều tra Công an thành phố H phối hợp với Công an phường S rà soát, điều tra, xác minh nhưng không có người thanh niên nào có tên H có đặc điểm nhận dạng như Q đã khai.

Cáo trạng số 282/KSĐT-MT, ngày 06/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Thanh Hóa truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị:Tuyên bố: Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 15 tháng đến 18 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì. Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát và bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn Q khai nhận: Khoảng 8h ngày 23/9/2017 tại phố K, phường Đ, thành phố H, tổ công tác Công an phường Đ đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Q đang tàng trữ 15 gói ma túy, trọng lượng 0,584g, loại heroine.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện Kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn Q phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo biết rõ ma túy là những tệ nạn nguy hiểm cho xã hội, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của nhiều gia đình. Ma túy đã làm kiệt quệ về sức khỏe và tài sản, là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm, gây lan truyền căn bệnh HIV/ADS. Do nghiện ma túy nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước và còn gây mất trật tự trị an xã hội.

Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”của bị cáo Nguyễn Văn Q, do chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự nên căn cứ vào Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét mức hình phạt thấp hơn so với khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Với tính chất vụ án nghiêm trọng, với hành vi và nhân thân của bị cáo, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổnđịnh nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ đối với 0,562g chất bột màu trắng (còn lại sau giám định) là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/ 2017.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ Một phong bì do niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa , có các chữ ký của Nguyễn Trần A, Trần Thị Thúy H, Lê Nhân D, Trần Quốc Đ. Bên trong chứa 0,562g chất bột màu trắng (Mẫu vật còn lại sau giám định).

Hiện số tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng số 25/THA ngày 06/11/2017 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H và Công an thành phố H.

Về án phí: Áp dụng khoản 1,2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14.

Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .


54
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về