Bản án 282/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 282/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 834/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 về việc "xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 842/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm: 1980. (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Khóm F, phường F, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn T2, sinh năm: 1977. (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, chị Phạm Thị T trình bày và xác định yêu cầu như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tuấn T2 xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau vào ngày 11/8/2003. Thời gian chung sống, chị và anh T2 phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp với nhau, vợ chồng chung sống đã lâu mà không có con chung nên anh T2 buồn, thường xuyên vắng nhà, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Anh T2 đã bỏ về nhà cha mẹ ruột của anh tại khóm B, phường F, thành phố C để sinh sống và ly thân với chị từ cách đây khoảng 04 tháng. Chị có liên hệ với anh T2 để anh T2 trở về chung sống với chị nhưng anh T2 không đồng ý. Không hàn gắn được tình cảm và không thể tiếp tục đời sống vợ chồng với anh T2 nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T2.

- Về con chung: Chị và anh T2 không có con chung.

- Về tài sản chung: Chị và anh T2 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị và anh T2 không có nợ chung.

Đối với anh Nguyễn Tuấn T2: Mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo cho anh T2 đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập anh T2 đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhiều lần nhưng anh T2 vẫn không đến Tòa án theo Thông báo, Giấy triệu tập của Tòa án, cũng không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng dân sự: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Tuấn T2 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị T xin ly hôn. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Anh T2 đang cư trú tại thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố C thụ lý giải quyết. Anh T2 đã được thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T2 vắng mặt; chị T xin từ chối hòa giải nên vụ án không hòa giải được, Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Anh T2 đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T2 là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 207, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Tuấn T2 chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của chị T và anh T2 được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T xác định thời gian chị và anh T2 chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp được với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, anh T2 đã rời khỏi gia đình và ly thân với chị. Không hàn gắn được tình cảm, không tiếp tục chung sống đời sống vợ chồng được với nhau nên chị xin ly hôn. Đối với anh T2: Anh T2 đã được thông báo đến Tòa án để tham gia hòa giải, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án tham gia phiên tòa xét xử nhiều lần nhưng anh T2 vẫn vắng mặt không rõ lý do, cũng không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Điều đó chứng tỏ anh T2 không có ý thức hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị T và anh T2 thực tế có xảy ra nhưng không ai có giải pháp để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Anh T2 không còn chung sống với chị T, đời sống chung của anh, chị không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T ly hôn anh T2.

[3] Về con chung: Chị T xác định chị và anh T2 không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị T xác định chị và anh T2 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị T xác định chị và anh T2 không có nợ chung. Không ai yêu cầu gì về nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1 - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị T về việc xin ly hôn anh Nguyễn Tuấn T2.

2 - Về con chung: Chị T xác định không có con chung nên không xem xét.

3 - Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4 - Về nợ chung: Không ai yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

5 - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000đ. Ngày 01 tháng 10 năm 2019, chị Phạm Thị T đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (biên lai số 0000846) được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.

6 - Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T2 vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 282/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:282/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về