Bản án 282/2017/HNGĐ-ST ngày 08/12/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 282/2017/HNGĐ-ST NGÀY 05/05/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 08 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 758/2017/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2017 về việc tranh chấp hôn nhân & gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 832/2017/QĐXX-ST ngày 07 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987

Địa chỉ: ấp T, xã A, Tp. C, tỉnh Cà Mau (có mặt)

- Bị đơn: Anh Trương Quang H, sinh năm 1984

Địa chỉ: ấp T, xã A, Tp. C, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở:  ấp B, xã A, Tp. C, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:

Về hôn nhân: Chị N xác định, chị và anh H kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh H thường xuyên rượu chè, chửi mắn vợ con, không lo làm ăn, cuộc sống gia đình vợ chồng thường hay cự cãi nhau, không còn hạnh phúc mặc dù gia đình đôi bên có hàn gắn nhưng không thành. Hiện cả hai đã ly thân nhau, chị N xác định không còn tình cảm với anh H nên yêu cầu chấm dứt hôn nhân.

Ý kiến của anh H tại bản tự khai ngày 09/11/2017: Anh H thừa nhận có rượu chè và chửi mắng vợ con và đã biết lỗi của mình, hứa sẽ khắc phục. Hiện anh H xác định còn thương vợ thương con nên không đồng ý ly hôn. Anh H không có ý kiến về con chung, tài sản chung và nợ chung. Tại phiên tòa anh H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N.

Về con chung: Chị N xác định có 02 người con chung tên Trương Tấn Đ sinh ngày 05/5/2009 và Trương Thị Diệp L sinh ngày 11/8/2014. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi cả hai con, không đặt ra yêu cầu anh H cấp dưỡng. Tại phiên toà anh H đồng ý giao cháu Đ và cháu L cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và cũng không đặt ra yêu cầu về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị N và anh H xác định không có tài sản chung.

Về nợ chung: Chị N và anh H xác định không có.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị N về việc xin ly hôn với anh Trương Quang H thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; anh H là bị đơn có nơi cứ trú tại ấp T, xã A, Tp. C nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhận định về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị N và anh H có đăng ký kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã A, thành phố C cấp giấy chứng nhận năm 2008. Xét về mâu thuẫn: chị N xác định trong thời gian chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh H thường xuyên rượu chè, chửi mắng vợ con, không lo làm ăn, cuộc sống gia đình vợ chồng thường hay cự cãi nhau, không còn hạnh phúc mặc dù gia đình đôi bên có hàn gắn nhưng không thành. Hiện cả hai đã ly thân nhau, chị N xác định không còn tình cảm với anh H nên yêu cầu ly hôn. Đối với anh H thừa nhận mâu thuẫn của vợ chồng là có và đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh H.

Về con chung: Chị N xác định có 02 người con chung tên Trương Tấn Đ sinh ngày 05/5/2009 và Trương Thị D Lan sinh ngày 11/8/2014. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con, không đặt ra yêu cầu anh H cấp dưỡng. Tại phiên tòa anh H đồng ý theo yêu cầu của chị N nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cả hai con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị N và anh H xác định không có. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị N và anh H xác định không có. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 144, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N về việc xin ly hôn với anh Trương Quang H.

Về con chung: Giao cháu Trương Tấn Đ sinh ngày 05/5/2009 và Trương Thị Diệp L sinh ngày 11/8/2014 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do chị N không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh H không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung.

Về tài sản chung: Chị N và anh H xác định không có.

Về nợ chung: Chị N và anh H xác định không có.

2. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình chị N nộp 300.000đ. Vào ngày 03 tháng 10 năm 2017, chị N đã dự nộp 300.000đ tại biên lai số 0003740 được chuyển thu sung quỹ nhà nước.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


86
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 282/2017/HNGĐ-ST ngày 08/12/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:282/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:đang cập nhật
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về