Bản án 28/2019/HNGĐ-ST ngày 04/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 28/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/03/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 539/2018/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1985; cư trú tại: Ấp CL, xã TP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Khương A, sinh năm 1980; cư trú tại: Ấp CL, xã TP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Nguyễn Ngọc P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Khương A tổ chức đám cưới vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng thời gia sau xãy ra nhiều mâu thuẫn. Mặc dù, gia đình và thân tộc hai bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Từ đó, tình cảm giữa chị và anh Khương A không còn gắn bó, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai còn trách nhiệm với ai. Chị và anh Khương A đã ly thân gần 03 năm. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Khương A.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 người con chung tên Phạm Thúy H, sinh ngày 09/10/2003 và Phạm Nhựt K, sinh ngày 01/12/2015 đang sống với chị. Khi ly hôn, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về các vấn đề khác: Vợ chồng không có nợ người khác và không có người khác nợ lại vợ chồng.

Tại phiên tòa: Chị P yêu cầu được ly hôn với anh Khương A, còn về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác thì không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Ngọc P khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Khương A là vụ kiện tranh chấp ly hôn, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Khương A, nhưng anh Khương A không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện của chị P. Tại phiên tòa, anh Khương A vắng mặt không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Khương A.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2003, chị P và anh Khương A kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình tại UBND xã TP. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh Khương A được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét về nguyên nhân mâu thuẫn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chị P xác định nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Tuy nhiên, anh Khương A không có ý kiến đối với nguyên nhân mâu thuẫn do chị P trình bày. Như vậy, những nguyên nhân mâu thuẫn do chị P xác định thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ đó, Hội đồng xét xử khẳng định anh Khương A không thật sự còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với chị P, không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Mặt khác, tại phiên tòa chị P xác định vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, nhưng cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện nay chị không còn tình cảm đối với anh Khương A, do đó chị không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với anh Khương A.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử khẳng định mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa chị P và anh Khương A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P về quan hệ hôn nhân.

 [4] Xét về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác: Chị P không yêu cầu tòa án giải quyết về các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Xét về án phí dân sự: Chị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 92; Điều 5; Điều 91; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc P được ly hôn với anh Phạm Khương A.

2. Về án phí dân sự: Chị Nguyễn Ngọc P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0008796 ngày 06 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị Nguyễn Ngọc P đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2019/HNGĐ-ST ngày 04/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:28/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về