Bản án 28/2018/HS-ST ngày 31/05/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 28/2018/HS-ST NGÀY 31/05/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2018/HSST ngày 06 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2018/QĐXXST-HS ngày 14/5/2018 đối với bị cáo:

Hoàng Văn H; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 05/10/1991 tại xã T, huyện L, tỉnh Cao Bằng

Nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện L, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 11/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn K (đã chết) và bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1950; có vợ là Hoàng Thị L2, sinh năm 1994 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Cao Bằng từ ngày 02/01/2018, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1985

Trú tại: Xóm P, xã Đ, huyện L, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ ngày 02 tháng 01 năm 2018, tổ công tác công an huyện L, tỉnh Cao Bằng phối hợp với Đồn biên phòng T (thuộc Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Cao Bằng) bắt quả tang Hoàng Văn H, sinh năm 1991, (trú tại xóm N, xã T, huyện L, tỉnh Cao Bằng) về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy nhằm mục đích đi bán. Vật chứng thu giữ trong cốp xe máy H đang điều khiển gồm: 01 bao tải nhỏ màu xanh, trong có 4 lớp ni lon màu đen-xanh-đen-đỏ, trong cùng là hai túi ni lon màu trắng chứa các hạt tinh thể trắng, H khai nhận đó là ma túy đá. Qua cân xác định có khối lượng 1893,2 gam (một nghìn tám trăm chín ba phẩy hai gam). Tạm giữ: 01 xe máy không biển kiểm soát, số khung 181087, số máy 181087.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Cao Bằng đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng để điều tra theo thẩm quyền.

Trước Cơ quan điều tra Hoàng Văn H khai nhận: H quen biết Nông Văn H2, sinh năm 1979 (trú tại xóm B, xã Q, huyện L, tỉnh Cao Bằng) do cùng nhau sử dụng ma túy. Cuối tháng 12 năm 2017 Nông Văn H2 có nói với H là: “H2 có thể tiêu thụ được ma túy đá, H biết ai bán thì lấy hàng cho H2 thử, nếu đạt sẽ bán được”, H nhất trí. Vì đã từng mua ma túy để sử dụng với người đàn ông Trung Quốc tên là G. Hai ngày sau, H đi một mình đi qua mốc 902 (xã T, huyện L, Cao Bằng) sang Trung Quốc gặp G, để trao đổi việc H có thể tiêu thụ được ma túy đá và lấy mẫu cho H2 kiểm tra. G nhất trí lấy mẫu cho H và thỏa thuận nếu H bán được 01kg ma túy đá giá 50.000 Nhân dân tệ thì sẽ trả cho H 5.000.000,đ (năm triệu đồng) tiền công.

Sau khi kiểm tra mẫu, năm ngày sau, H2 xuống nhà bảo H là đồng ý lấy 02kg ma túy đá. Đến 08 giờ ngày 01/01/2018 H2 gọi điện báo khách đã đến huyện L mua ma túy, H liền sang Trung Quốc gặp G lấy 02kg ma túy, gói trong hai túi ni lon màu trắng, mang về nhà bọc thêm nhiều lớp ni lon, rồi cho vào chiếc bao tải nhỏ màu xanh cất để trong bếp. Đến 07 giờ ngày 02 tháng 01 năm 2018 H2 đến nhà đón, H đã cho bao tải chứa ma túy đá vào cốp xe máy của mình, rồi điều khiển xe đi theo sau xe máy của H2 để giao ma túy. Khi đến khu vực trước nhà nghỉ M (thuộc phố L, thị trấn S, huyện L) thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 10 đối với vật chứng của vụ án. Tại bản kết luận giám định số 89A/C54 (TT2) ngày 12 tháng 01 năm 2018 của Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận: “Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu hạt tinh thể ký hiệu mẫu số 1 và mẫu số 2 gửi giám định ghi vụ Hoàng Văn H”.

Hành vi trên đây của Hoàng Văn H đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cáo trạng số 10/Ctr-VKSCB(P1) ngày 05/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố Hoàng Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố. Bị cáo cho rằng hai túi ni lon màu trắng chứa các hạt tinh thể trắng, có trọng lượng 1893,2 gam (một nghìn tám trăm chín ba phảy hai) gam bị thu giữ khi bắt quả tang là ma túy “đá”, bị cáo lấy ở Trung Quốc, mục đích đem đi bán để hưởng lợi số tiền 10.000.000,đ (mười triệu đồng).

Tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn B khai: Vào khoảng tháng 12/2017 không nhớ ngày cụ thể, tôi có cho H mượn một chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, không có biển số, không có yếm. Lúc mượn xe, H nói là mượn để làm phương tiện đi lại sinh hoạt. Tôi không biết và không liên quan gì đến việc “mua bán ma túy” của H, chiếc xe mô tô tôi cho H mượn, là xe của tôi, yêu cầu cơ quan pháp luật xem xét trả lại chiếc xe mô tô đó cho tôi để làm phương tiện đi lại ”.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 đến 04 năm tù. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; xử trả lại chiếc xe mô tô cho ông Hoàng Văn B (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án).

Trong giai đoạn điều tra, có luật sư Nguyễn Thị Thủy là người bào chữa cho bị cáo, tuy nhiên ngày 13/3/2018, bị cáo đã có đơn không yêu cầu luật sư bào chữa trong giai đoạn tiếp theo, bị cáo tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo Hoàng Văn H trình bày lời bào chữa: Do bản thân tôi sử dụng ma túy, không có việc làm ổn định, không có thu nhập, nên khi được Nông Văn H2 đề xuất việc tìm ma túy đá đem bán, tôi đã đồng ý sang Trung Quốc lấy ma túy đá với ông G để bán kiếm tiền công, dẫn đến việc vi phạm pháp luật.

Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn H và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn H hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Cao Bằng lập hồi 09 giờ 10 phút ngày 02/01/2018 tại phố L, thị trấn S, huyện L, tỉnh Cao Bằng; Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng vụ án lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại hồi 09 giờ 45 phút ngày 03/01/2018 xác định được: “Số chất rắn dạng tinh thể trong túi ni lon thứ nhất có khối lượng tịnh là: 973,16 (chín trăm bảy mươi ba phẩy mười sáu) gam. Số chất rắn dạng tinh thể trong túi ni lon thứ hai có khối lượng tịnh là: 920,04 (chín trăm hai mươi phẩy không bốn) gam. Tổng khối lượng vật chứng là: 1893,2 (một nghìn tám trăm chín mươi ba phẩy hai) gam”; Kết luận giám định số 89A/C54(TT2) ngày 12/01/2018 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận: “Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu hạt tinh thể ký hiệu mẫu số 1 và mẫu số 2 gửi giám định ghi vụ Hoàng Văn H”.

Tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch 08/2015/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp có quy định: “…Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nH người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy”.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khẳng định rằng bị cáo nhận thức được những hạt tinh thể màu trắng bị thu giữ khi bắt quả tang là ma túy đá, do bị cáo lấy ở Trung Quốc, mục đích đem bán hưởng lợi số tiền 10.000.000,đ (mười triệu đồng). Việc số lượng tinh thể màu trắng thu được qua giám định không có chất ma túy là nằm ngoài dự đoán của bị cáo. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an và bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Mục đích các bị cáo vận chuyển ma túy đến thị trấn L để bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ. Mặc dù qua giám định không có thành phần chất ma túy trong 1893,2 (một nghìn tám trăm chín mươi ba phẩy hai) gam các hạt tinh thể màu trắng bị thu giữ, nhưng mục đích của bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy với số lượng gần 02kg ma túy “đá” là số lượng lớn. Do vậy cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác, đồng thời phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy ở địa phương.

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo H khai nhận lấy ở Trung Quốc với một người tên G, do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng không có đủ điều kiện để xác minh. Đối với đối tượng Nông Văn H2, qua xác minh H2 đãđi khỏi địa phương từ đầu tháng 01 năm 2018 đến nay không rõ ở đâu, hiện nay cơ quan điều tra vẫn tiếp tục điều tra xác minh, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác.

 [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo Hoàng Văn H là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có một tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với vai trò, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

 [4] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng của vụ án là 01 (Một) hộp chữ nhật còn nguyên niêm phong, bên ngoài ghi “Vật chứng vụ Hoàng Văn H, sinh năm 1991, bắt ngày 02/01/2018” là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) xe máy hiệu SUFAT, màu sơn xanh, không có biển kiểm soát, số khung: 181087; số máy: 181087, xe đã cũ, nhiều bộ phận đã bị vỡ nát, không có gương chiếu hậu, không có ống xả, không có hai cánh yếm thuộc sở hữu của ông Hoàng Văn B. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội, ông Báo không hề biết, do vậy cần trả lại chiếc xe cho ông Hoàng Văn B.

 [5] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành án phạttù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 02/01/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Xử tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) hộp chữ nhật còn nguyên niêm phong, bên ngoài ghi “Vật chứng vụ Hoàng Văn H, sinh năm 1991, bắt ngày 02/01/2018”.

- Xử trả lại ông Hoàng Văn B, sinh năm 1985 (trú tại xóm P, xã Đ, huyện L, tỉnh Cao Bằng): 01 (Một) xe máy hiệu SUFAT, màu sơn xanh, không có biển kiểm soát, số khung: 181087; số máy: 181087, xe đã cũ, nhiều bộ phận đã bị vỡ nát, không có gương chiếu hậu, không có ống xả, không có 2 cánh yếm.

Xác nhận vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 28 ngày 09 tháng 4 năm 2018.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000.0đ (Hai trăm nghìn đồng) sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa, Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa, báo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án biết được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.


83
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về