Bản án 28/2018/HSST ngày 26/01/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 28/2018/HSST NGÀY 26/01/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 01 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2018/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2018 đối với  bị cáo:

Họ và tên: Trần Hải N, tên gọi khác: không; sinh ngày 01 tháng 9 năm 1981; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 12, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Trần Văn C, sinh năm 1958; Con bà: Dương Thị L, sinh năm 1957; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có vợ là Hoàng Thị C, sinh năm 1985; Có 01 con sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. ( Có mặt tại phiên toà)

Người làm chứng: Anh Hoàng Xuân Kh, sinh năm:1959, trú tại: Tổ 16, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 15 giờ 15 phút ngày 22/11/2017, tổ công tác của Công an phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 15, phường Tân Thành đã phát hiện một nam thanh niên đang ngồi ở vỉa hè có biểu hiện cất giấu ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu nam thanh niên đứng lên để kiểm tra. nam thanh niên khai tên là Trần Hải N, sinh năm 1981, trú tại: tổ 12, phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên. Quá trình kiểm tra N đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng ( nghi là hêrôin), N khai đó là Hêrôin. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày cân xác định chất bột màu trắng đã thu giữ của N có trọng lượng là 0,238 gam.

Tại bản kết luận giám định số 55/KL – PC54 ngày 28/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ được của Trần Hải N ngày 22/11/2017 gửi đến giám định là chất ma túy, loại Hêrôin có trọng lượng (khối lượng) là 0,238gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Hải N khai nhận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/11/2017, N đi bộ từ nhà đến khu vực Nga Ba Tích Lương, thuộc phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên với mục đích tìm mua Hêrôin để sử dụng. Khi đến nơi, N gặp một người đàn ông không quen biết làm nghề lái xe ôm, N hỏi, nhờ người đàn ông lái xe ôm mua hộ 01 gói Hêrôin với giá 100.000 đồng. Người lái xe ôm đồng ý và xin N sau khi mua được Hêrôin về thì cho sử dụng cùng. N đồng ý và đưa 100.000 đồng cho người lái xe ôm, người lái xe ôm cầm tiền N đưa và đi đâu đó khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho N 01 gói Hêrôin được gói bằng giấy bạc màu trắng. Sau đó N cùng người lái xe ôm đi đến bãi tha ma gần trạm quá tải cũ cùng nhau sử dụng một phần với hình thức chích vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong N cất giấu số Hêrôin còn lại vào trong bao thuốc lá Thăng Long và một mình đi về khu vực tổ 15, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên tìm nơi sử dụng tiếp số Hêrôin còn lại thì bị tổ Công tác của Công an phường Tân Thành phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Lời khai của Trần Hải N phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu N đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát: Tại bản cáo trạng số 29/KSĐT-MT ngày 09/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Hải N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Hải N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 3 Điều 7  Bộ luật năm 2015.

Điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 hình Xử phạt: Bị cáo Trần Hải N: Từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu N.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.Lời nói cuối cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và  kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hải N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,  các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]  Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Hải N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 15 giờ 15 phút ngày 22/11/2017, tại khu vực tổ 15, phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên, Trần Hải N đang có hành vi tàng trữ 0,238 gam Hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 thì hành vi nêu trên của Trần Hải N được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3]. Bản cáo trạng số 29/KSĐT-MT ngày 09/01/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Hải N về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, Hêrôin,… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội.Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là đối tượng nghiện ma túy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe và phòng ngừa chung. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.

[5]Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, bản thân là người nghiện ma túy, biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu N.

[7]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8].Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Hêrôin bị thu giữ N khai nhờ một người đàn ông không biết tên, tuổi địa chỉ làm nghề xe ôm ở khu vực Ngã Ba Tích Lương, thuộc phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên mua hộ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm c Khoản 1 Điều 249,điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;

- Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

1/ Tuyên bố: Bị cáo Trần Hải N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Xử phạt Trần Hải N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 22/11/2017.

- Quyết định tạm giam bị cáo Trần Hải N 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3/ Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu N.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 109 ngày 08/01/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).

3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Hải N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


83
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về