Bản án 28/2018/HS-PT ngày 26/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 28/2018/HS-PT NGÀY 26/02/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26/02/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 265/2018/TLPT-HS ngày 21/12/2018 đối với bị cáo Lê Thị Y do có kháng cáo của bị cáo và đối với bản án hình sự sơ thẩm số 173/2018/HSST ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Thị Y, sinh năm 1986; tên gọi khác: Không; Tại: Bắc Giang; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hóa: 0/12; Con ông: Lê Văn P, sinh năm 1964 và bà Lương Thị H, sinh năm 1964. Gia đình có 05 anh em, bị cáo là thứ nhất; Chồng: Nguyễn Thành B, sinh năm 1976; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 11/6/2018 đến ngày 17/6/2018 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 11/6/2018, tại sân nhà ông Nguyễn Danh L, sinh năm 1965 ở thôn M, xã T, thành phố B (hiện do chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1994 ở phường Đ, thành phố B đang thuê ở), tổ công tác Công an phường M, thành phố B kiểm tra bắt quả tang Lê Thị Y, sinh năm 1986 ở tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Vật chứng thu được gồm:

- 01 gói giấy mầu trắng bên trong đựng 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa bên trong túi nilon đựng chất tinh thể mầu trắng và 01 viên nén hình tròn mầu hồng đỏ trên một mặt của viên nén có chữ “WY” nghi là ma tuý tổng hợp thu giữ tại nền sân gạch chỗ Y đang đứng.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS mầu sơn đỏ, BKS 98B2- 388.69.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO mầu trắng vỏ ốp mầu vàng.

- 01 sổ hộ khẩu có số 040225150 mang tên Nguyễn Thành B; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01575 mang tên Hà Thị Nhiên và 01 giấy chứng nhận kết hôn mang tên Nguyễn Thành B và Lê Thị Y.

Tổ công tác cho vật chứng nghi là ma túy vào 01 phong bì thư và tiến hành niêm phong theo quy định, đưa Lê Thị Y về Công an xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, bàn giao Y cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Kết luận giám định số 749/KL- PC54 ngày 13/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong 01 phong bì thư đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thể mầu trắng và 01 viên nén hình tròn mầu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ “WY” đựng trong 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa được gói bên ngoài bằng giấy mầu trắng đều là chất ma tuý Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,336 gam, trong đó khối lượng tinh thể mầu trắng 0,233 gam; khối lượng viên nén 0,103 gam.

Quá trình điều tra, Lê Thị Y khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 11/6/2018, Y đang ở ngã tư T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì có một người đàn ông làm xe ôm (Y không biết tên, địa chỉ ở đâu) đến nhờ Y đi mua hộ 300.000 đồng tiền ma túy đá và bảo khi nào mua ma túy về thì sẽ trả công 20.000 đồng. Y đồng ý cầm 300.000 đồng của người đàn ông làm xe ôm đưa cho rồi điện thoại cho T (là bạn mới quen, Y không biết địa chỉ cụ thể) nói là có người nhờ Y mua hộ 300.000 đồng tiền ma túy đá. T bảo Y cứ đi lên khu vực chùa M thì sẽ người bán ma túy cho Y. Y điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, biển kiểm soát 98B2- 388.69 là xe Y mượn của anh Nguyễn Thành B, sinh năm 1976 (là chồng Y) đến khu vực chùa M ở phường M, thành phố B rồi gọi điện thoại cho T thì T bảo Y cứ đi tiếp qua chùa M, đến xưởng sửa chữa ô tô cách 1 đến 2 nhà thì đỗ lại. Y điều khiển xe mô tô đi theo chỉ dẫn của T, qua xưởng sửa chữa ô tô thì đỗ xe lại. Khi Y vừa đỗ xe thì có một người thanh niên không quen biết đeo khẩu T và điều khiển xe mô tô đến chỗ Y và bảo “Tiền đâu”. Y đưa cho người thanh niên 300.000 đồng, người thanh niên cầm tiền và bảo Y đi theo mình. Y điều khiển xe mô tô đi theo người thanh niên vào sân một nhà dân ở rìa đường, tại đây người thanh niên đưa cho Y một gói giấy mầu trắng bên trong đựng ma túy rồi điều khiển xe đi luôn. Y cầm gói ma túy vừa mua được ở tay trái và đang chuẩn bị ngồi lên xe mô tô để đi về thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Do sợ hãi nên Y đã thả số ma túy vừa mua được đang cầm ở tay trái xuống nền sân gạch chỗ Y đang đứng nhưng vẫn bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ.

Đối với đối tượng tên T, Y khai không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể của người này, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành rút list số điện thoại của Y và T, kết quả rút list số điện thoại và các tài liệu xác minh không xác định đối tượng tên T; đối với người thanh niên đã giao dịch bán ma túy cho Y, do Y khai không quen biết và không nhận biết được là ai nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh xử lý đối với hai đối tượng này.

Đối với người đàn ông làm xe ôm đã nhờ Y đi mua hộ ma túy, do Y khai không biết tên và địa chỉ cụ thể ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đủ căn cứ xác minh xử lý.

Đối với ông Nguyễn Danh L là chủ nhà và chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1994 ở phường Đ, thành phố B là người thuê nhà ông LuY không biết việc có người thanh niên bán ma túy cho Lê Thị Y tại sân nhà nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 sổ hộ khẩu có số 040225150; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01575 và 01 giấy chứng nhận kết hôn là những đồ vật, tài liệu tạm giữ khi bắt giữ Y. Qua điều tra xác định những đồ vật, tài liệu trên là của anh Nguyễn Thành B (là chồng Y) không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh B những đồ vật, tài liệu trên.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, BKS 98B2- 388.69 là phương tiện mà Y dùng để đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là vật chứng của một vụ án do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y thụ lý giải quyết, ngày 07/9/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bàn giao chiếc xe mô tô trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu OPPO mầu trắng vỏ ốp mầu vàng được nhập kho vật chứng để xử lý.

Tại Cơ quan điều tra - Công an thành phố B bị cáo Lê Thị Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 172/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Lê Thị Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 173/2018/HSST ngày 15/11/2018 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Y 01 (Một) Năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 11/6/2018 đến ngày 17/6/2018.

Ngoài ra bản án còn tuyên giải quyết vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo, các quyền và nghĩa vụ khác.

Ngày 28/11/2018, bị cáo Lê Thị Y làm đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo, lý do án sơ thẩm xét xử bị cáo quá nặng.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Y được Tòa án triệu tập hợp lệ tuy nhiên vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Thị Y nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

Về việc vắng mặt bị cáo Y có kháng cáo: bị cáo Lê Thị Y đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa tuy nhiên bị cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm không có lý do, căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định của pháp luật.

[2] Qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa thấy đủ cơ sở xác định: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 11/6/2018, tại thôn M, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an phường M, thành phố B kiểm tra bắt quả tang Lê Thị Y có hành vi tàng trữ trái phép 0,336 gam chất ma tuý Methamphetamine.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện. Ma túy là hiểm họa của xã hội, là nguồn gốc phát sinh của nhiều tội phạm, có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, kinh tế, hạnh phúc của con người. Sử dụng trái phép chất ma túy có thể dẫn đến chết người, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã tàng trữ 0,336 gam chất ma túy Methamphetamine. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Thị Y phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2018/HS-ST ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã xét xử bị cáo Lê Thị Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị Y thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên toà, bị cáo Dũng khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn ăn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bản án sơ thẩm đã đánh giá và áp dụng cho bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Án sơ thẩm sau khi đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân dân bị cáo đã xử phạt bị cáo 01 năm 01 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và không nặng đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Y không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Y như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lê Thị Y được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Y. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Y 01 (Một) Năm 01 (Một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 11/6/2018 đến ngày 17/6/2018.

[2] Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lê Thị Y được miễn án phí hình sự phúc thẩm

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2018/HS-PT ngày 26/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:28/2018/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về