Bản án 276/2018/HS-PT ngày 12/07/2018 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 276/2018/HS-PT NGÀY 12/07/2018 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Trong các ngày từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 190/2018/TLPT-HS ngày 08/5/2018 đối với các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bản án hình sự số 27/2018/HS-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:

1. Nguyễn Thị D; sinh năm 1984; tại tỉnh V; nơi cư trú: Khóm 1 thị trấn M, huyện C, tỉnh V; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn V và bà Nguyễn Thị H; chung sống như vợ chồng với ông Nguyễn Tri D, có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013, tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại; có mặt.

2. Nguyễn Thị T; sinh năm 1980; tại tỉnh L; nơi cư trú: Ấp Q, xã H, huyện V, tỉnh L; chỗ ở: 35/7/13 đường Cao Lỗ, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C và bà Trương K; có chồng tên Phạm Văn K, có 01 con, sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/10/2015; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T: Luật sư Nguyễn Văn Q, Hãng Luật A, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị D: Luật sư Nguyễn H, Công ty Luật TNHH C, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn E, sinh năm 1976

Trú tại: 144A đường T, phường P, quận A, Thành phố H; có mặt.

2. Ông Dín Minh Cường, sinh năm 1977

Trú tại: 108/51 đường Q, Phường C, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: 

Khoảng tháng 8/2015 ông Nguyễn E, ông Dín Minh C thuê căn nhà số E12/338 ấp 5 xã P, huyện B, Thành phố H để thành lập Công ty AB lĩnh vực hoạt động là kinh doanh nhà hàng, khách sạn, xông hơi, xoa bóp. Sau khi thành lập công ty, ông C giao cho Nguyễn E trực tiếp tuyển nhân viên, quản lý điều hành mọi hoạt động của Công ty AB. Quá trình điều hành hoạt động, ông E tuyển nhân viên massage và đồng ý cho nhân viên kích dục bằng tay cho khách giá mỗi lượt là 250.000 đồng, nhân viên hưởng 150.000 đồng, ông E hưởng 100.000 đồng, đến ngày 20/9/2015 ông E giao khách sạn cho Nguyễn Thị D trực tiếp quản lý. Sau đó có Nguyễn Thị T, Hà Thị L, Lê Thị N, Nguyễn Thị Thanh N, Hồ Thị Chúc M cùng với L, H, F (không rõ lai lịch) xin vào làm nhân viên massage. Đến ngày 28/9/2015 do việc quản lý của Nguyễn Thị D là giảm khách đến massage nên ông E giao lại việc quản lý cho Nguyễn Thị T, còn D lo việc thu tiền.

Ngày 01/10/2015 D, T bắt đầu cho nhân viên bán dâm tại khách sạn AB giá 500.000 đồng/lượt, trong đó nhân viên bán dâm hưởng 350.000 đồng, giao lại cho D 150.000 đồng. Trong số nhân viên của khách sạn có N, L, F, L, H, Y đồng ý bán dâm, khi có khách mua dâm thì D, T trực tiếp nhận tiền, ghi vào sổ theo dõi đến cuối ngày trả cho nhân viên. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/10/2015 Đội Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra khách sạn AB, phát hiện bắt quả tang nhân viên khách sạn Lê Thị N, Hà Thị L đang bán dâm cho hai khách nam tại phòng số 203 và 206.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T phạm tội “Chứa mại dâm”; Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 254, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2015.

Áp dụng Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự: Kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp có thẩm quyền kháng nghị bản án theo trình tự phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Nguyễn E về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại Điều 254 Bộ luật hình sự năm 1999, đã sửa đổi bổ sung năm 2009 để tránh bỏ lọt người phạm tội.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và thời hạn khángcáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 09/4/2018 bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáoxin giảm nhẹ hình phạt; ngày 11/4/2018 bị cáo Nguyễn Thị D kháng cáo nội dung: Việc truy tố tội chứa mại dâm là không đúng; xử phạt 03 năm 06 tháng tù là quá nặng và bỏ lọt người phạm tội là ông Nguyễn E.

Ngày 12/4/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị số 04/KNPT-VKS kháng nghị phúc thẩm bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng tăng nặng mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T, lý do: Các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nhưng Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là không đúng.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Hành vi của các bị cáo T và D đã xâm phạm vào trật tự công cộng, phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức trong vụ án. Do đó cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội chứa mại dâm là có căn cứ, cấp sơ thẩm đã xem các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như các bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, phạm tội với vai trò giúp sức vị trí thứ yếu, nhân thân tốt, riêng bị cáo D đang nuôi con nhỏ sinh năm 2013 và có cha ruột tham gia quân đội tại chiến trường Camphuchia. Tại phiên tòa hôm nay ông E cũng đã thừa nhận trách nhiệm của mình tại khách sạn AB. Các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Bình Chánh đã điều tra, truy tố đối với các bị cáo T và D về tội chứa mại dâm nhưng không điều tra làm rõ hành vi chứa mại dâm với vai trò chủ mưu của ông Nguyễn E là có thiếu sót và để lọt người phạm tội vì chính ông E là người quản lý, điều hành mọi hoạt động tại khách sạn AB. Ông Nguyễn E phân công T và D ghi chép sổ sách, thu tiền từ việc mại dâm để cuối ngày giao lại cho E. Do đó ông E không thể không chịu trách nhiệm của mình. Vì các lẽ trên, đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 355 và điểm a khoản 1 điều 358 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện B về tăng hình phạt đối với các bị cáo, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại, xét xử lại đối với hành vi chứa mại dâm của ông Nguyễn E.

Luật sư bào chữa trình bày: Luật sư nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát, Luật sư đã kiến nghị nhiều lần về những vi phạm của cấp sơ thẩm như trong biên bản bắt quả tang không thể hiện sự có mặt của ông Nguyễn E mặc dù theo lời khai của chính ông E xác nhận khi đó ông E đang có mặt tại khách sạn, bản án sơ thẩm chưa xem xét nguyên tắc có lợi theo Nghị quyết 41/2017/QH của Quốc hội, các bị cáo T, D chỉ phạm tội ở vai trò giúp sức, hiện tại các bị cáo đang điều trị bệnh, nuôi con nhỏ, mức án 03 năm 06 tháng tù đối với từng bị cáo là quá nặng đề nghị áp dụng các điều 52 và điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo. Đồng thời xét xử các bị cáo phạm tội nhiều lần là chưa có cơ sở vững chắc, kết luận điều tra, bản cáo trạng có sự khác nhau về số lần chứa mại dâm và số tiền thu lợi bất chính, bản thân các bị cáo chỉ là người làm thuê, không hưởng lợi. Yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố người chủ mưu trong vụ án để phân hóa vai trò của các bị cáo T, D, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại và thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo Nguyễn Thị T.

Các bị cáo nhất trí với quan điểm của Luật sư bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị T: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bị cáo tại ngoại.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị D: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi và tội danh của bị cáo và giảm nhẹ hình phat vì bị cáo chỉ là người làm thuê, không hưởng lợi gì và hiện đang bị bệnh và nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đối với bản án sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa phúc thẩm.

 [2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T đã có hành vi cho các nhân viên Lê N, Hà Thị L bán dâm cho hai khách nam tại phòng số 203 và 206 khách sạn AB vào ngày 12/10/2015 thì bị bắt quả tang. Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội. Các bị cáo đã có hành vi để cho hai người mại dâm và hai người mua dâm quan hệ tình dục với nhau một cách độc lập ở hai phòng trong khách sạn của mình quản lý nên các bị cáo bị truy tố và xét xử theo tình tiết định khung được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 254 Bộ luật hình sự là có cơ sở.

 [3] Tại phiên tòa hôm này các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Tuy nhiên, các bị cáo khẳng định rằng Nguyễn E là chủ mưu cần phải được điều tra, truy tố xét xử để không lọt tội phạm, bản thân các bị cáo từng là nhân viên của Nguyễn E, mọi hoạt động điều hành tại khách sạn đều do Nguyễn Tri E chỉ đạo, các bị cáo chỉ làm thuê, hưởng lương không hưởng lợi bất kỳ khoản tiền nào từ hoạt động mại dâm tại khách sạn.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Bản án phúc thẩm số 79/2017/HS-PT ngày02/3/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ bản án để điều tra xét xử lại do chưa làm rõ vai trò của

Nguyễn E, Dín Minh C. Quá trình điều tra lại, cơ quan điều tra huyện B cũng không làm rõ được hành vi của những người này với vai trò chủ mưu. Tòa án nhân dân huyện B đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần nhưng Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện B đều vẫn giữ nguyên quyết định chỉ truy tố đối với các bị cáo T, D nên Tòa án nhân dân huyện B căn cứ Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về phạm vi xét xử để tiếp tục xét xử đối với các bịcáo. Sau khi xét xử sơ thẩm thì Viện kiểm sát huyện B kháng nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định các cơ quan tiến hành tố tụng huyện B đã bỏ lọt người phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát huyện B, hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Vì vậy, qua xem xét toàn diện các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời khai của các bị cáo, đương sự trong vụ án, thấy rằng: Vụ án đã được cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra nhiều lần và bị cấp phúc thẩm hủy nhưng các cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không được thực hiện, để đảm bảo tính khách quan trong việc điều tra, truy tố vụ án không bị kéo dài thời hạn tố tụng nên chấp nhận ý kiến của các bị cáo, Luật sư bào chữa và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo thủ tục chung.

Về yêu cầu của bị cáo T và Luật sư, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố đề nghị Hội đồng xét xử thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bị cáo được tại ngoại đối với bị cáo Nguyễn Thị T sẽ được xem xét khi cơ quan thụ lý lại vụ án quyết định.

Do hủy bản án sơ thẩm nên không xem xét kháng cáo của các bị cáo trong vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 355; Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Hủy bản án sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo thủ tục chung.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị T cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại hồ sơ vụ án.

Các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


69
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về