Bản án 275/2019/HS-ST ngày 11/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 275/2019/HS-ST NGÀY 11/09/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 254/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Minh T (tên gọi khác T), sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: khu phố Đông Thành, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1974 và bà Võ Thị M, sinh năm 1974; có 01 em sinh năm 1999; tiền án: Ngày 26/11/2010 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xử phạt 20 tháng tù về Tội cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 04/4/2011; ngày 16/3/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xử phạt 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản, chấp hành tại trại giam Thủ Đức, Bình Thuận đến ngày 26/11/2016 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 25/9/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xử phạt 02 năm 03 tháng tù về Tội đánh bạc, chấp hành tại trại giam Tống Lê Chân đến ngày 31/01/2019 được trả tự do; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 24/5/2019, có mặt tại phiên tòa.

2. Huỳnh Thanh G, sinh năm 1983 tại thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: khu phố 3, phường T, Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: Tổ 14A, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1956; có 03 anh em ruột, lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 24/5/2019, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Võ Thị M, sinh năm 1974; địa chỉ: khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

2. Huỳnh Thị L, sinh năm 1979; thường trú: khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ao Minh C, sinh năm 1994; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh T và Huỳnh Thanh G là bạn bè, cùng sử dụng ma túy đá và gần nhà nhau. Khoảng 22 giờ ngày 23/5/2019 Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô biển số 61D1-149.92 đi ngang qua nhà của Huỳnh Thanh G tại khu phố Đông Thành, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, thì G gọi T vào nhà chơi. Tại đây G rủ T đi mua ma túy đá về sử dụng, G đưa cho T số tiền 200.000 đồng để đi mua ma túy đá, T điều khiển xe mô tô biển số 61D1-149.92 đi sang khu vực sân vận động Dĩ An gặp và mua 01 gói nylon ma túy đá với giá 200.000 đồng của người tên T (không rõ nhân thân, lai lịch).

Sau đó T đi về nhà của G, khi đi đến trước Miếu Cây Sao, đường Đỗ Tấn P, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, thì Công an phường Tân Đông Hiệp yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính, thì Nguyễn Minh T ném xuống đường 01 gói nylon ma túy, lực lượng Công an phát hiện, thu giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Qua lời khai của Nguyễn Minh T, tiến hành bắt khẩn cấp đối với Huỳnh Thanh G về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Huỳnh Thanh G khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng vụ án: 01 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng, 01 xe mô tô biển số 61D1-149.92.

Căn cứ Kết luận giám định số 413/MT-PC09 ngày 28/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có trọng lượng: 0,1487 gam, loại chất Methamphetamine.

Đối với tên Th bán ma túy cho T tại khu vực sân vận động Dĩ An hiện không xác định được nhân thân, lai lịch không có căn cứ xử lý.

Tại cáo trạng số 278/CT–VKS ngày 31 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Huỳnh Thanh G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh G mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù; áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 bì thư đã niêm phong bên trong chứa 0,1086 gam ma túy, loại chất Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, trong phần thực hiện nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Nguyễn Minh T và Huỳnh Thanh G sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy T, G sử dụng là chất Methamphetamine. Vào 22 giờ ngày 23/5/2019, tại Miếu Cây Sao, đường Đỗ Tấn Phong, tổ 14A khu phố Đông Thành, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, Công an phường Tân Đông Hiệp yêu cầu Nguyễn Minh T dừng xe kiểm tra hành chính theo quy định, phát hiện Triệu cầm 01 bịch nylon hàn kín chứa chất màu trắng, T thừa nhân đây là ma túy đá, mua của người thanh niên tên Thành ở khu vực sân vân động Dĩ An với giá 200.000 đồng; do Huỳnh Thanh P đưa tiền mua về sử dụng chung, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Hành vi của các bị cáo tàng trữ 01 gói ma túy, tên khoa học là chất Methamphetamine, trọng lượng 0,1556 gam để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Minh T, phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội mới, thuộc trường hợp tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo Triệu. Cáo trạng số 225/CT–VKS ngày 25 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Huỳnh Thanh G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo G chưa có tiền án tiền; đối với bị cáo T có nhân thân xấu, bị Tòa án xét xử nhiều lần và chưa được xóa án tích.

[7] Trong vụ án có vai trò đồng phạm, không xem phạm tội có tổ chức vì không phân công vai trò cụ thể trong vụ án.

[8] Xử lý vật chứng:

- Xét 01 bì thư đã niêm phong bên trong có chứa 0,1086 gam, loại chất Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Xét 01 xe mô tổ biển số 61D1-149.92 là tài sản hợp pháp của bà Võ Thị M, bà M không biết con trai mình là Nguyễn Minh T sử dụng xe vào việc phạm tội nên đã trả lại chiếc xe nêu trên cho bà M.

- Xét 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng là tư vật của Nguyễn Minh T không liên quan đến vụ án, đã trả lại cho Triệu.

[9] Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

[10] Đối với tên Thành bán ma túy cho Nguyễn Minh T tại khu vực sân vận động Dĩ An hiện không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không có căn cứ xử lý.

[11] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T và Huỳnh Thanh G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2019.

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2019.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong có chứa 0,1086 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2019, búc lục 168).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Minh T và Huỳnh Thanh G, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

209
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 275/2019/HS-ST ngày 11/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:275/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về