Bản án 273/2020/HS-ST ngày 11/09/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H L, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 273/2020/HS-ST NGÀY 11/09/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 285/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 281/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Vũ Q.D - Tên gọi khác: Hà Q.D; Sinh ngày: 02/8/1983, tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ 4, khu 2, phường YK, TP HL, tỉnh Quảng Ninh ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Q.Đại (đã chết); Con bà: Nguyễn T.L; Vợ con: chưa có; Tiền án: Ngày 09/8/2017, Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Năm 2001 bị Tòa án nhân dân TP HL xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Năm 2004 bị Tòa án nhân dân Tối Cao xử phúc thẩm phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị bắt ngày 29/5/2020, tạm giam, có mặt tại phiên tòa

2. Nguyễn M.C - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 31/3/1984, tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ 43, khu 4, phường CX, TP HL, tỉnh Quảng Ninh ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn V.C; Con bà: Nguyễn T.B; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Năm 2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; Năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố HL xử phạt 36 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị bắt ngày 29/5/2020, tạm giam, có mặt tại phiên tòa

3. Đỗ C.H - Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 26/6/1974, tại tỉnh TH; Nơi cư trú: Tổ 30D, khu 2B, phường CX, TP HL, tỉnh Quảng Ninh ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ C.L; Con bà: Trịnh T.N; Vợ: Nguyễn Thị T.H, có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2010;Tiền án,tiền sự: Chưa có; Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn T.H - Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 29/11/1975, tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ 13, khu 2A, phường CX, TP HL, tỉnh Quảng Ninh ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn V.Đ; Con bà: Bùi T.L; Chồng: Vũ T.C, có 01 con sinh năm 1996; Tiền án,tiền sự: Chưa có; Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

5. Bùi T.T - Tên gọi khác: không; Sinh ngày15/10/1965, tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Khu 7, thi trấn CR, huyện VĐ, tỉnh Quảng Ninh ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi V.T; Con bà: Lưu T.L; Chồng: Phạm Q.P, có 02 con, con lớn sinh năm 1988 con nhỏ sinh năm 1989; Tiền án,tiền sự: Chưa có; Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/05/2020,Vũ Q.D đi xe mô tô đến quán Café H, thuộc tổ 20D, khu 2A, phường CX, thành phố HL, do chị Nguyễn T.H làm chủ để uống nước. Một lúc sau, Đỗ C.H, Nguyễn M.C đến, cả ba rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Lốc”, bằng bộ bài Tú lơ khơ 52 quân. Cả ba đánh được khoảng 15 phút thì Nguyễn T.H đến xin tham gia đánh; khoảng 10 phút sau, Bùi T.T đến và cũng tham gia đánh. Cả bọn thống nhất cách chơi đánh bạc như sau: Sử dụng bộ Tú lơ khơ gồm 52 quân bài, chia đều cho 05 người, mỗi người 10 quân bài, theo thứ tự từ 3 đến Át đến 2, trong đó quân 3 có giá trị nhỏ nhất, quân 2 có giá trị lớn nhất. Có thể đánh đơn lẻ từng quân bài, đánh đôi là 02 quân bài, sáp là 03 quân bài cùng số, dây là 03 quân bài liên tiếp trở lên. Người thắng ván trước sẽ là người đánh đầu tiên, ai đánh hết 10 quân bài đầu tiên là người thắng được thu tiền của những người thua còn lại trị giá 5.000 đồng/quân bài, tương ứng với số quân bài còn lại của người thua. Người thua nào còn đủ 10 quân bài thì gọi là “lủng” và phải trả cho người thắng số tiền là 70.000 đồng. Ai xin “báo” là đánh 10 quân bài mà không ai chặn được thì mỗi người còn lại trả cho người báo số tiền là 100.000 đồng. Nếu người “báo” bị người khác chặn thì gọi là bắt “báo” phải trả cho người “chặn báo” số tiền là 400.000 đồng. Bộ “tứ quý” gồm 04 quân bài cùng số chặn được một quân 2, người có quân 2 bị chặn phải trả cho người chặn bằng “tứ quý” số tiền là 100.000 đồng. Cả nhóm đánh đến khoảng 13 giờ 40 phút thì H về đưa con đi học; đến khoảng 14h10’phút, H quay lại tiếp tục đánh bạc.

Đến 14h30 phút cùng ngày, khi cả 05 người đang đánh bạc sát phạt nhau thì bị Công an thành phố HL kiểm tra, bắt quả tang. Công an thu giữ tại vị trí đánh bạc số tiền 7.420.000 đồng; thu trên người Vũ Q.D 1.800.000 đồng ; thu trên người Nguyễn M.C 500.000 đồng ; thu trên người Bùi T.T 1.200.000 đồng; thu trên người Đỗ C.H 1.500.000 đồng; Trên người Nguyễn T.H không có tiền; Thu 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.

Bị cáo Vũ Q.D có lời phù hợp với nội dung vụ án về thời gian, địa điểm, cách thức đánh bạc, số tiền thu giữ tại chỗ đánh bạc. Ngoài ra bị cáo D khai dùng 1.800.000 đồng cất trong người để đánh bạc.

Bị cáo Đỗ C.H có lời phù hợp với nội dung vụ án về thời gian, địa điểm, cách thức đánh bạc, số tiền thu giữ tại chỗ đánh bạc. Ngoài ra bị cáo H khai cầm đi khoảng 5.100.000 đồng, trong đó 1.500.000 đồng để ở túi quần phía sau là để trả tiền học cho con, còn lại khoảng 3.600.000 đồng dùng để đánh bạc.

Bị cáo Nguyễn M.C có lời phù hợp với nội dung vụ án về thời gian, địa điểm, cách thức đánh bạc, số tiền thu giữ tại chỗ đánh bạc. Ngoài ra bị cáo khai mang số tiền 540.000đ đi đánh bạc. Công an thu trên người bị cáo số tiền 500.000đ dùng để đánh bạc.

Bị cáo Nguyễn T.H có lời phù hợp với nội dung vụ án về thời gian, địa điểm, cách thức đánh bạc, số tiền thu giữ tại chỗ đánh bạc. Ngoài ra bị cáo khai mang khoảng 2.000.000 đồng để đánh bạc, được hay thua bao nhiêu bị cáo không nhớ. Khi bị bắt do sợ nên Hà đã lấy toàn bộ tiền ở trong túi vứt ra bàn.

Bị cáo Bùi T.T có lời phù hợp với nội dung vụ án về thời gian, địa điểm, cách thức đánh bạc, số tiền thu giữ tại chỗ đánh bạc. Ngoài ra bị cáo khai cầm khoảng 1.300.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua khoảng 100.000 đồng, còn 1.200.000 đồng Thịnh vẫn để trong túi xách của Thịnh và đã bị thu giữ.

Nguyễn T.H-chủ quán café H khai, trưa ngày 29/5/2020, có gọi điện thoại bảo D, C đến quán chơi, uống nước chứ không rủ đánh bạc. D đến trước, H đến sau, tiếp đến là C. H có lấy nước, càfe cho ba người rồi chở chồng chị đến Ngã tư Loong Toòng đi học lái xe ô tô. Khoảng 20 phút sau quay về quán thì thấy D, C và H đang đánh bài ăn tiền, nhưng không biết đánh như thế nào. Sau đó chị H vào phòng ngủ, đến khoảng gần 14h cùng ngày có người gọi ra pha nước cho khách, khi ra thì thấy có 02 phụ nữ cũng ngồi đánh bạc với bọn D. Khi Công an bắt quả tang nhóm H đánh bạc, thì H đang đi đưa cafe cho khách ở bên ngoài. H có thu tiền càfe và tiền nước giải khát của nhóm H, ngoài ra không thu tiền gì. Bộ bài 52 quân là chi H mua trước đó mấy ngày cho bạn và người nhà ở quê ra chơi vui.

Cáo trang số 254/CT-VKSHL, ngày 20/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Vũ Q.D và đồng bọn về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng - Khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Vũ Q.D (tức Hà Q.D) mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/5/2020.

- Khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn M.C mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/5/2020.

- Khoản 1 điều 321; điểm i,s khoản 1 khoản 2 điều 51, điều 58, điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền Đỗ C.H từ 20 triệu đến 30 triệu đồng.

- Khoản 1 điều 321; điểm i,s khoản 1 điều 51, điều 58, điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền Nguyễn T.H từ 20 triệu đến 30 triệu đồng.

- Khoản 1 điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 58, điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền Bùi T.T từ 20 triệu đến 30 triệu đồng. - Điểm a,b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú có 52 quân bài, tịch thu xung công quỹ số tiền 10.920.000đ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, các bị cáo có lời khai phù hợp nhau, phù hợp với nội dung vụ án về thời gian, địa điểm, cách thức đánh bạc, số tiền thu giữ tại chỗ đánh bạc, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố HL lập hồi 14 giờ 45 phút ngày 29/5/2020.

[2]. Từ đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 00 ngày 29/05/2020, tại quán Café Huyền, thuộc tổ 20D, khu 2A, phường CX, thành phố HL, Vũ Q.D, Nguyễn M.C, Đỗ C.H, Nguyễn T.H, Bùi T.T đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, dưới hình thức dùng bài Tú lơ khơ để đánh “Lốc”, với tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 10.920.000 đồng (gồm 7.420.000đ thu tại chiếu bạc, 1.800.000đ thu trong người bị cáo Dương, 500.000đ thu trong người bị cáo Hoan, 1.200.000đ thu trong người bị cáo Thịnh). Như vậy hành vi đó của các bị cáo đã phạm tội phạm tội “Đánh bạc”quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có trị giá từ 5.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự và an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa mới. Tệ nạn cờ bạc là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến hạnh phúc của các gia đình là tế bào của xã hội, nhiều gia đình đã tan nát do nợ nần vì cờ bạc, để có tiền đánh bạc thì các con bạc còn sẵn sàng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì thế cần thiết xử lý nghiêm các bị cáo bằng một bản án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.

[4]. Đánh giá các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:

- Tình tiết giảm nhẹ: Xét bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo H, H, T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H có bố đẻ là thương binh hạng ¾, bị cáo T có bố là người có công trong kháng chiến được nhà nước tặng thưởng huân chương nên cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết tặng nặng: Bị cáo D đã có một tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên bị coi là tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Xét vai trò của các bị cáo thấy rằng các bị cáo đều cùng rủ rê nhau tham gia đánh bạc nên giữ vai trò ngang nhau. Tuy nhiên đối với hai bị cáo D và C có nhân thân xấu, đã từng vi phạm pháp luật và bị xét xử, nay lại tiếp tục phạm tội nên thể hiện là đối tượng ngoan cố, vì vậy cần phải có mức án nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại. Đối với bị cáo Ho, H, T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội đơn giản, mức độ phạm tội không cao nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ để răn đe và giáo dục các bị cáo.

[6]. Về vật chứng: 01 bộ bài tú có 52 quân bài là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy, số tiền 10.920.000đ thu giữ của là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên tịch thu xung công quỹ nhà nước.

[6]. Về hình phạt bổ sung : Các bị cáo không có tài sản thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo [7]. Đối với Nguyễn T.H có hành vi đồng ý cho các bị cáo sử dụng quán càfe của mình quản lý làm nơi đánh bạc nhưng chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an thành phố HL xử lý hành chính.

[8]. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo, các điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự và thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng, không có quyết định tố tụng, hành vi tố tụng nào bị khiếu nại.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Vũ Q.D (tức Hà Q.D) 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/5/2020.

Căn cứ: Khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Nguyễn M.C 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/5/2020.

Căn cứ: Khoản 1 điều 321; điểm i,s khoản 1điều 51, điều 58, điều 35 Bộ luật hình sự;

Phạt tiền Nguyễn T.H 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Căn cứ: Khoản 1 điều 321; điểm i,s khoản 1 khoản 2 điều 51, điều 58, điều 35 Bộ luật hình sự;

Phạt tiền Đỗ C.H 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Phạt tiền Bùi T.T 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

Căn cứ Điểm a,b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú có 52 quân bài, tịch thu xung công quỹ số tiền 10.920.000đ (tất cả theo biên bản giao nhận vật chứng số: 267/BB-THA; ngày 21 tháng 8 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HL ).

Căn cứ Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 273/2020/HS-ST ngày 11/09/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:273/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về