Bản án 27/2021/HS-ST ngày 16/06/2021 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

 BẢN ÁN 27/2021/HS-ST NGÀY 16/06/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:26/2021/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 6 năm 2021 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn B, sinh ngày 15/8/1996; Nơi cư trú: Thôn Ph, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Tạ Thị G; Có vợ Nguyễn Thị H; có 01con sinh năm 2017.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 20/8/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L huyện K quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng từ ngày 20/8/2020, chấp hành xong ngày 20/11/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/3/2021, đến ngày 13/3/2021 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; Được dẫn giải có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại: Anh Vương Hải B, sinh năm 1979; ( Có mặt tại phiên tòa ). Trú tại: Thôn Th, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình.

+ Người làm chứng:

- Anh Phạm Ngọc Th, sinh năm 1981; ( Vắng mặt tại phiên tòa ).

Trú tại: Thôn V, xã V, thành phố Th, tỉnh Thái Bình.

- Ông Hà Quốc B, sinh năm 1941; ( Vắng mặt tại phiên tòa ). Trú tại: Số 210, phường Ng, quận H, thành phố Hà Nội.

- Anh Vương Quốc V, sinh năm 1976; ( Vắng mặt tại phiên tòa ). Trú tại: Thôn Th, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Bà Tạ Thị G, sinh năm 1959; ( Vắng mặt tại phiên tòa ). Trú tại: Thôn Ph, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 08/3/2021, Nguyễn Văn B đi bộ một mình từ nhà ở thôn Ph xã L huyện K ra thị trấn Kiến Xương để đón xe ô tô khách lên thành phố Hà Nội, khi đến khu vực bờ hồ xã Nam Cao huyện Kiến Xương, do không còn xe đi, nên B quay về nhà. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi qua nhà ông Vương Văn B, sinh năm 1945, trú tại thôn Th xã L huyện K, B thấy cổng nhà ông B mở, trong sân nhà có chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Dream biển kiểm soát 29.542-X7 của anh Vương Hải B (là con trai ông Bốn) nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. B đi vào trong sân dắt chiếc xe mô tô của anh Vương Hải B ra ngoài đường, mở khóa điện đang cắm sẵn ở ổ khóa, khởi động xe rồi điều khiển xe về hướng thành phố Thái Bình; khi đi đến khu vực xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình thì xe bị hỏng. Nguyễn Văn B dắt xe đến quán sửa xe máy của anh Phạm Ngọc Th, B gặp anh Th nhờ sửa xe nhưng anh Th nói sáng hôm sau mới sửa được nên B gửi xe lại ở quán nhà anh Th và đi đón xe ô tô khách lên thành phố Hà Nội. Ngày 10/3/2021 anh Vương Hải B có đơn trình báo mất xe gửi lên Công an huyện Kiến Xương. Đến ngày 11/3/2021, Nguyễn Văn B đã đến Công an huyện Kiến Xương đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Anh Phạm Văn Th đã giao lại chiếc xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương, chiếc xe đã được định giá 3.500.000 đồng, đã trả lại cho anh Vương Hải B.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT- VKSKX ngày 06/5/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố Nguyễn Văn B về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B mức án từ 06(Sáu) tháng đến 09(Chín) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do không có thu nhập ổn định.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

Tại phiên tòa anh Vương Hải B không đề nghị gì về việc xét xử bị cáo B, anh đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 29.542-X7 và chùm chìa khóa anh không có yêu cầu, đề nghị gì khác về vấn đề bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn B như trong bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ:

- Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương lập hồi 08 giờ ngày 11/3/2021 đối với Nguyễn Văn B.

- Biên bản ghi lời khai của người làm chứng.

- Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG, ngày 11/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Xét thấy các chứng cứ nêu trên phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Bắc về địa điểm, thời gian, hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ ngày 08/3/2021, Nguyễn Văn B có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản đã trộm cắp một xe Mô tô nhãn hiệu HONDA loại Dream biển kiểm soát 29.542- X7 trị giá 3.500.000 đồng của anh Vương Hải B để tại sân nhà ông Vương Văn B, ở thôn Th xã L huyện K tỉnh Thái Bình.

Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trưởng hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo và đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự, an ninh tại địa phương. Bị cáo là chủ thể đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định.

[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Xét thấy Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương đã trả lại cho anh Vương Hải B chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 29.542-X7 và chùm chìa khóa là đúng quy định của pháp luật, anh Vương Hải B không có yêu cầu, đề nghị gì khác về vấn đề dân sự nên không đặt ra giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với anh Phạm Văn Th không biết chiếc xe HONDA loại Dream biển kiểm soát 29.542-X7 của Nguyễn Văn B gửi lại là xe trộn cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương không xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Điều luật áp dụng:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 07(Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (11/3/2021).

2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn B, bị hại là anh Vương Hải B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/6/2021).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

288
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 27/2021/HS-ST ngày 16/06/2021 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:27/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Xương - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về