Bản án 27/2018/HNGĐ-ST ngày 09/08/2018 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 27/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/08/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 09 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2018/QĐ-HNGĐ ngày 23.7.2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Nguyễn Thị T - Sinh năm 1995. (có mặt) Trú tại: ANT, xã HS, huyện HV, TP Đà Nẵng

- Bị đơn: Ông Nguyễn H - Sinh năm 1990 (vắng mặt lần 2 không lý do). Trú tại: số 354/1 Nguyễn Văn C, phường HHB, quận L, Tp Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Phan Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn H kết hôn năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND phường HHB, quận L, TP Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống tại phường HHB, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng.

Trong thời gian chung sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân chủ yếu bất đồng quan điểm, ông H thiếu sự tôn trọng tôi, thường xuyên cãi nhau về việc ông H đánh số đề, nhiều lần xúc phạm danh dự tôi, quá bức xúc nên tôi đã về nhà ba mẹ tôi sống từ tháng 5 năm 2018 đến nay, nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn H.

- Về quan hệ con chung: Tôi và ông Nguyễn H có 01 con chung là: Nguyễn H, sinh ngày 02.6.2014. Ly hôn tôi có nguyện vọng được con chung Nguyễn H và không yêu cầu ông H cấp dưỡng

- Về tài sản chung, về nợ chung: Bà T khai nhận không có.

* Bị đơn là ông Nguyễn H không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Phan Nguyễn Thị T và ông Nguyễn H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 23.7.2018 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn là ông H, nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt ông H.

[2] Vềnội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phan Nguyễn Thị T với ông Nguyễn H thì thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Nguyễn Thị T và ông Nguyễn H kết hôn 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND phường HHB, quận L, TP Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Trong thời gian chung sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân chủ yếu bất đồng quan điểm, ông H thiếu sự tôn trọng bà T, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau về việc ông H đánh số đề, nhiều lần xúc phạm danh dự bà T, quá bức xúc nên bà

T đã về nhà ba mẹ sống từ tháng 5 năm 2018 đến nay, nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn H.

Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn là ông Nguyễn H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Nguyễn Thị T. Theo đơn xác nhận tại xã HS, huyện HV, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợchồng giữa bà T và ông H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do ông H thường xuyên đánh đập bà T, không tôn trọng bà T và gia đình bà T, hiện nay bà T đã về nhà ba mẹ sống từ tháng 5 năm 2018 cho đến nay. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ con chung: Bà Phan Nguyễn Thị T và ông Nguyễn H có 01 con chung là: Nguyễn H, sinh ngày 02.6.2014

Ly hôn bà Thiệt có nguyện vọng xin được con chung Nguyễn H và không yêu cầu ông H cấp dưỡng HĐXX xét thấy, theo tài liệu, chứng cứ do bà T cung cấp thì hiện nay bà là công nhân mức thu nhập hiện nay của bà T khoảng 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng/01 tháng). Hơn nữa cháu Nguyễn H còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó, HĐXX xét thấy cần giao cháu Nguyễn H cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung bà T không yêu cầu nên HĐXX không xét.

- Về tài sản chung, về nợ chung: Bà T khai nhận không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H cũng không có ý kiến gì đối với tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Nếu sau này bà T và ông H có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì: bà T phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Phan Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn H

Tuyên xử: Bà Phan Nguyễn Thị T, sinh năm 1995, được ly hôn với ông Nguyễn H, sinh năm 1990.

Giấy chứng nhận kết hôn số134 quyển số01 ngày 30.9.2015 của UBND phường HHB, quận L, TP Đà Nẵng không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Tuyên: Giao con chung Nguyễn H, sinh ngày 02.6.2014 cho bà Phan Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Thị T không yêu cầu ông Nguyễn H cấp dưỡng nuôi con. Bà Phan Nguyễn

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng tiền nuôi con.

3. Về tài sản chung, về nợ chung: Bà T khai nhận không có.

4. Về án phí: Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000 đồng bà T phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0002873 ngày 11.5.2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. Như vậy, bà T đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


90
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2018/HNGĐ-ST ngày 09/08/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:27/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về