Bản án 27/2015/DS-PT ngày 15/10/2015 về đòi nhà cho ở nhờ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 27/2015/DS-PT NGÀY 15/10/2015 VỀ VIỆC ĐÒI NHÀ CHO Ở NHỜ

Ngày 15 tháng 10 năm 2015, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2015/ KT-PT ngày 09/03/2015 do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2012/DS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 650/2015/QĐ-PT ngày 22 tháng 9 năm 2015 giữa các đương sự.

1.  Nguyên đơn

- Ông Nguyễn Văn Thìn, sinh năm 1954; trú tại: số 35 Lê Đại Hành, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

2.  Bị đơn

- Ông Nguyễn Văn Thông, sinh năm 1958; trú tại: số 10/35 Lê Đại Hành, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn: Bà Phạm Thị Vân, sinh năm 1961, trú tại: số 10/ 35 Lê Đại Hành, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng (bà Vân là vợ của ông Thông).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Phạm Thị Vân, sinh năm 1961, trú tại: số 10/ 35 Lê Đại Hành, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 25/10/2006 và quá trình tham gia tố tụng:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Thìn trình bày: Mẹ nuôi của ông là cụ Duran Camille-quốc tịch Pháp có ngôi biệt thự số 35 Lê Đại Hành từ năm 1931 (Bằng khoán điền thổ số 154 do Sở bảo thủ điền thổ Hải Phòng cấp ngày 12/5/1930). Sinh thời, cụ Nguyễn Văn Nghĩa (là ông nội của ông  và ông Thông) đến chung sống với cụ Duran Camille, nhưng giữa hai cụ không có con chung. Khi ông Thìn được 1 tuổi, cụ Duran Camille đã đón về ở cùng hai cụ.

          Năm 1961 thực hiện chính sách quản lý nhà đất cải tạo XHCN, ngôi biệt thự 35 Lê Đại Hành thuộc diện tài sản phải giao lại cho Nhà nước quản lý. Cụ Nghĩa và cụ Duran Camille thỏa thuận giao lại cho nhà nước tổng diện tích 220,49 m2 nhà chính và 94 m2 nhà phụ. Sau khi giao lại nhà, hai cụ và một cháu được ở không phải trả tiền thuê nhà gồm:

+ Nhà chính có 6 buồng, diện tích 125,57m2;

+ Nhà phụ có 3 buồng là 34m2.

          Năm 1970, cụ Nghĩa chết, ngày 07/5/1973 cụ Duran Camille làm văn bản nhận ông Thìn làm con nuôi có nhận thực của UBHC khu phố Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

          Ngày 02/3/1975 cụ Duran Camille lập di chúc cho ông Thìn là người thừa kế duy nhất toàn bộ ngôi nhà hai tầng số 35 Lê Đại Hành gồm 5 buồng tầng dưới, 5 buồng tầng trên, dãy nhà phụ dưới bếp gồm 6 buồng. Di chúc có chứng thực của tiểu khu và khu phố Hồng Bàng. Cùng năm, ông Thìn xin cụ Duran Camille cho mẹ là bà Lê Thị Hiền và các em là ông Tuấn, ông Thông và bà Lan về ở gian nhà phụ 14 m2 nay là gian nhà số 8/35 Lê Đại Hành. Đây là gian nhà cụ Duran Camille kiện đòi ông Nguyễn Hoài Lư phải trả theo Bản án số 58 ngày 14/6/1975 của TAND thành phố Hải Phòng.

          Ngày 26/4/1976 cụ Duran Camille chết. Thời gian sau, ông Thìn có đơn yêu cầu Sở nhà đất và công trình đô thị Hải Phòng sang tên quyền sở hữu ngôi nhà 35 Lê Đại Hành theo di chúc. Sở nhà đất và công trình đô thị Hải Phòng cho rằng yêu cầu này thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tại công văn 36/CV-TA ngày 10/9/1976 của TAND khu phố Hồng Bàng xác định yêu cầu sang tên sở hữu tài sản thừa kế của ông Thìn là có đủ căn cứ và chuyển yêu cầu này cho Sở nhà đất và công trình đô thị Hải Phòng giải quyết theo thẩm quyền.

          Theo di chúc được thừa kế toàn bộ nhà 35 Lê Đại Hành, năm 1982 ông Thìn có đơn đến TAND thành phố Hải Phòng khởi kiện Sở nhà đất và công trình đô thị Hải Phòng trả lại phần diện tích Nhà nước quản lý cho thuê gồm nhà chính tầng một 94m2, nhà phụ 50m2. Ngày 26/5/1982 TAND thành phố Hải Phòng thụ lý vụ án. Xác định tài sản kiện đòi là di sản  do Pháp kiều để lại, theo công văn 171 ngày 09/3/1983 của TAND Tối cao thì vụ án chưa có đường lối giải quyết cụ thể nên TAND thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định số 33/QĐ-TH ngày 30/3/1983 tạm hoãn xét xử vụ án. Giao cho ông Thìn tạm thời quản lý và sử dụng 125m2 nhà tại số 35 Lê Đại Hành.

          Ngày 12/02/1990, UBND thành phố Hải Phòng ra Quyết định số 123/QĐ-UB (thu hồi lại toàn bộ nhà 35 Lê Đại Hành) với nội dung: Giao cho Sở Xây dựng cùng các ngành các cấp liên quan tiến hành làm các thủ tục quản lý toàn bộ ngôi nhà 35 Lê Đại Hành theo chính sách của Nhà nước.

          Thực hiện Quyết định số 123/QĐ-UB, ngày 14/2/1990 Sở xây dựng có thông báo số 07/TB-XD gửi Công ty nhà cửa Hải Phòng với nội dung: Toàn bộ nhà 35 Lê Đại Hành đều thuộc quản lý của Công ty nhà cửa. Theo đó, ngày 15/2/1990 Công ty Nhà cửa mời ông Thìn đến giải quyết, tuy nhiên trên Giấy mời đó của Công ty Nhà cửa thì Chủ tịch UBND thành phố đã ghi ý kiến yêu cầu Công ty Nhà cửa tạm hoãn không thi hành Quyết định số 123/QĐ-UB.

          Đến ngày 27/2/1990, UBND thành phố Hải Phòng ra Quyết định số 192/QĐ-UB (thu hồi lại QĐ 123), với nội dung: Việc xác lập sở hữu đối với phần diện tích nhà 35 Lê Đại Hành do ông Thìn đang sử dụng được tiến hành theo trình tự tư pháp. Sở xây dựng chuyển toàn bộ hồ sơ sang Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng để tiếp tục giải quyết.

          Năm 1990 ông Thông kết hôn với bà Phạm Thị Vân nên ông Thìn cho vợ chồng ông Thông ở tầng 1 nhà chính. Đến năm 1992, ông Thìn đã đổi cho người em khác là ông Tuấn để vợ chồng ông Thông xuống ở căn nhà phụ diện tích 12m2 nay là nhà số 10/35 Lê Đại Hành. Trong quá trình sử dụng, vợ chồng ông Thông tự lấn chiếm thêm một phần nhà tắm, nhà vệ sinh chung liền kề bên để sử dụng riêng. Phần khuôn viên của biệt thự, vợ chồng ông Thông sử dụng bán giải khát, ăn uống và gây mâu thuẫn trong gia đình. Năm 2006 vợ chồng ông Thông còn sử dụng Giấy thừa kế nhà không hợp pháp, xin UBND phường xác nhận để đề nghị Sở xây dựng cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu căn nhà số 10/35 Lê Đại Hành. Vì vậy, ngày 25/10/2006 ông Thìn có đơn khởi kiện yêu cầu ông Thông và bà Vân trả lại gian nhà phụ 12m2 nay là số 10/35 Lê Đại Hành mà ông cho mượn với căn cứ:

          - Ngôi nhà 35 Lê Đại Hành là tài sản riêng của cụ Duran Camille theo Bằng khoán điền thổ số 154 do Sở bảo thủ điền thổ Hải Phòng cấp ngày 12/5/1930. Sau năm 1961, theo Biên bản bàn giao nhà ngày 08/01/1961 thì phần diện tích 125m2 nhà chính và 34m2 nhà phụ thuộc quyền sở hữu của cụ Camille.

          - Căn cứ các văn bản pháp luật của Nhà nước như Nghị định 19/CP ngày 29/6/1960, Pháp lệnh thừa kế 1990, Nghị định 60/CP ngày 14/7/1994 thì cụ Camille có quyền định đoạt  đối với tài sản của mình tại di chúc lập ngày 02/3/1975 cho ông được thừa kế. Vì vậy sau khi cụ mất, thì ông là người duy nhất được thừa kế tài sản của cụ Duran Camille theo di chúc. Ông Thìn xác định, bản di chúc cụ Duran Camille lập ngày 02/3/1975 thì ông chỉ được thừa kế phần diện tích nhà do nhà nước để lại cho cụ sử dụng mà không phải toàn bộ ngôi biệt thự 35 Lê Đại Hành.

          - Diện tích 12m2 nhà phụ nay là nhà số 10/35 Lê Đại Hành là phần nằm trong diện tích ông được thừa kế. Ông Thông và bà Vân sử dụng diện tích đó là ở nhờ tài sản của ông từ năm 1992. Năm 2006, với ý định chiếm đoạt diện tích này ông Thông đã có đơn đề nghị Sở xây dựng thành phố Hải Phòng làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nên ông đã kiện đòi lại. Thực tế hiện nay ông Thông và bà Vân không ở căn nhà này mà cho người khác làm nơi để hàng hóa.

          Ông Thìn xác định toàn bộ diện tích nhà ông được hưởng theo di chúc của cụ Camille là tài sản riêng của ông, không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng ông. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc ông Thông và bà Vân trả lại căn nhà này. Trong quá trình sử dụng ông Thông và bà Vân có sửa chữa, cơi nới thêm tầng không có sự đồng ý của ông. Ông không có trách nhiệm thanh toán giá trị phần kiến trúc ông Thông và bà Vân đã làm thêm.

          Bị đơn là ông Nguyễn Văn Thông trình bày: Nguồn gốc ngôi nhà 35 Lê Đại Hành là biệt thự do cụ Nguyễn Văn Nghĩa (ông nội ông) và cụ Duran Camille mua năm 1931. Năm 1961 ông bà nội có bàn giao nhà cho Nhà nước và để lại diện tích để ở là:

+ Nhà chính 125m2 gồm 6 buồng (5 buồng trên gác, 1 buồng dưới nhà);

+ Nhà phụ 34m2 gồm 3 buồng.

Tháng 01/1970 cụ Nghĩa chết không để lại di chúc. Lúc đó ông với mẹ đẻ, cùng ông Tuấn bà Lan sống tại số 47 Lê Lợi, Hải Phòng, còn ông Thìn ở với cụ Duran Camille. Năm 1975 cụ Duran Camille nói với mè đẻ của ông bán nhà về ở với cụ Duran Camille và ông Thìn, nên mẹ của ông đã bán nhà tại số 47 Lê Lợi, Hải Phòng và đưa tiền cho cụ Duran Camille. Năm 1975 cụ Duran Camille viết di chúc cho ông Thìn nhà đất tại 35 Lê Đại Hành.

          Tháng 3/1990 ông kết hôn với bà Phạm Thị Vân, ông Thìn và gia đình cho ở tầng 1 diện tích khoảng 30m2. Sau gần 2 năm, ông Thìn sắp xếp lại: “Đổi Thông xuống nhà Tuấn ở, Tuấn lên chỗ Thông ở” và có đưa cho ông Giấy chứng nhận thừa kế nhà do ông Thìn viết. Vợ chồng ông ở gian nhà phụ từ năm 1992, đã có 3 lần sửa chữa, cơi nới thêm 1,5 tầng.

          Ông không chấp nhận yêu cầu của ông Thìn đòi căn nhà 12m2 với lý do: Ông không mượn, không ở nhờ nhà của ông Thìn, vì theo Giấy chứng nhận thừa kế ngày 04/7/1986, ông được hưởng 12m2 nhà phụ, ông Thìn được hưởng 125m2.

          * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Phạm Thị Vân trình bày: Căn nhà số 10/35 Lê Đại Hành vợ chồng bà ở từ năm 1992 do ông Thìn sắp xếp trong gia đình. Gian nhà này ông bà không có hợp đồng thuê nhà với Công ty kinh doanh nhà Hải Phòng, không có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Trong quá trình sử dụng ông bà có sửa chữa phần tường, lát nền, cơi nới thêm tầng 2, làm cửa... như Hội đồng định giá xác định ngày 29/10/2012. Bà không đồng ý việc ông Thìn kiện đòi căn nhà số 10/35 Lê Đại Hành với lý do: Ngày 04/7/1986 ông Thìn đã làm Giấy chứng nhận thừa kế, trong đó có phân chia diện tích nhà của ông bà nội được nhà nước giao. Khi chuyển đổi nhà ngày 30/9/1991, ông Thìn đưa Giấy chứng nhận thừa kế cho vợ chồng bà giữ. Biên bản họp gia đình ngày 24/7/2005 ông Thìn yêu cầu bà mang giấy này lên quận nếu được công nhận và đóng dấu thì ông Thông được sử dụng 12m2.

Đề nghị xem xét lại di chúc của ông Thìn vì: Nhà nước để lại cho ông bà 125m2 nhà chính và 34m2 nhà phụ nhưng di chúc của bà nội ông Thông lại ghi toàn bộ ngôi nhà cho ông Thìn.

Xét lại việc nhận ông Thìn là con nuôi của cụ Camille: theo Quyết định 123/QĐ-UB ngày 12/2/1990 và Quyết định 192/QĐ-UB ngày 27/2/1990 của UBND thành phố Hải Phòng đã hủy việc nhận con nuôi của bà nội ông Thông. Ông Thông về ở nhà 35 Lê Đại Hành từ năm 1975, theo Luật đất đai thì ông bà được hợp thức hóa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn nhà này hiện nay ông bà vẫn sử dụng nhưng cho người khác để nhờ hàng hóa. Nếu phải trả nhà cho ông Thìn thì bà cũng không cần ông Thìn thanh toán giá trị phần kiến trúc ông bà đã sửa chữa hoặc làm thêm.

Tại bản án sơ thẩm số 04/2012/DSST ngày 13/11/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã áp dụng Điều 256 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 34; khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Điều 17 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐPT ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Thìn đối với ông Nguyễn Văn Thông.

Buộc ông Nguyễn Văn Thông và bà Phạm Thị Vân phải trả cho ông Nguyễn Văn Thìn tài sản là căn nhà 12m2 tại số 10/35 Lê Đại Hành, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, Hải Phòng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/11/2012, bà Nguyễn Thị Vân (đại diện theo ủy quyền của bị đơn) có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm quyết định vợ chồng bà phải trả nhà cho ông Thìn là chưa khách quan, chưa đúng quy định của pháp luật, không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của gia đình bà. Đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng căn cứ vào biên bản bàn giao nhà năm 1961 của ông bà nội của chồng bà và Giấy chứng nhận thừa kế của chồng bà, công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình bà.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 95/2013/DSPT ngày 04/6/2013, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội nhận định tương tự án sơ thẩm; từ đó quyết định:

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Vân và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi xét xử phúc thẩm, vợ chồng ông Thông và bà Vân có đơn đề nghị giám đốc thẩm, đơn có xác nhận của địa phương về việc vợ chồng ông Thông, bà Vân không có nhà ở nào khác, hiện đang tạm trú ở nhờ nhà mẹ đẻ của bà Vân.

Tại Quyết định số 53/2014/KN-DS ngày 23/7/2014, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo Thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 95/2013/DSPT ngày 04/6/2013 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội;

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 54/2014/DS-GĐT ngày  21/11/2014 Hội đồng Thẩm phán TANDTC Hủy bản án phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại.

Thực hiện Nghị quyết số 81/2014/QH13 của Quốc hội: Các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao thẩm quyền xét xử phúc thẩm; các Tòa hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chuyển giao thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cho các Tòa án nhân dân cấp cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thực hiện

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn Thìn không rút đơn khởi kiện; bị đơn là ông Nguyễn Văn Thông giữ nguyên nội dung kháng cáo; hai bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, sau khi nghe các đương sự trình bày, đồng thời hỏi các đương sự cũng như việc tranh luận và sau khi Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến về việc những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng qui định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử;

XÉT THẤY

Tại biên bản bàn giao nhà ngày 08/01/1961 cụ Duran Camille và chồng là Nguyễn Nghĩa đã bàn giao một phần nhà số 35 Lê Đại Hành diện tích nhà chính 220m2 + diện tích công trình phụ 94m2 cho Nhà nước quản lý. Tại mục “B. quyền lợi” biên bản bàn giao nhà nêu trên có ghi: “Sau khi giao lại các tài sản...ở trên cho Nhà nước quản lý, ông bà Duran Camille, Nguyễn Nghĩa sẽ được hưởng các khoản sau đây: Được ở không phải trả tiền thuê nhà một diện tích ở các địa điểm sau: 35 Lê Đại Hành nhà chính diện tích 125,57m2 và diện tích phụ là 34m2, gồm có hai ông bà và 1 cháu ở...”.

Ngày 02/3/1975, cụ Duran Camille lập di chúc cho ông Thìn thừa kế toàn bộ ngôi nhà hai tầng số 35 Lê Đại Hành gồm 5 buồng tầng dưới, 5 buồng tầng trên, dãy nhà phụ dưới bếp gồm 6 buồng. Di chúc có chứng thực của tiểu khu và UBHC khu phố Hồng Bàng. Ngày 26/4/1976 cụ Duran Camille chết. Năm 1982, ông Thìn có đơn đến TAND thành phố Hải Phòng khởi kiện Sở Nhà đất và công trình đô thị thành phố Hải Phòng đòi lại phần diện tích Nhà nước quản lý cho thuê gồm nhà chính tầng một 94m2, nhà phụ 50m2.

Ngày 26/5/1982, TAND thành phố Hải phòng thụ lý vụ án, xác định tài sản kiện đòi là di sản do Pháp kiều để lại, theo công văn số 171 ngày 09/3/1983 của TAND tối cao thì vụ án chưa có đường lối giải quyết cụ thể nên TAND thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định số 33/QĐ-TH ngày 30/3/1983 tạm hoãn xét xử vụ án, “Giao cho anh Nguyễn Văn Thìn tạm thời quản lý và sử dụng 125m2 nhà tại số 35 Lê Đại Hành theo như di chúc của bà Duran Camille lập với điều kiện giữ nguyên tình trạng như hiện nay (anh Thìn không được bán, đổi, cho hay có một hành vi nào khác nhằm mục đích di chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với ngôi nhà”.

Tại Quyết định số 123/QĐ-UB ngày 12/02/1990, UBND thành phố Hải Phòng có nội dung: Hủy nội dung công nhận của UBHC khu phố Hồng Bàng ngày 8/5/1973 trong đơn của bà Duran Camille (Quốc tịch Pháp) xin nhận ông Nguyễn Văn Thìn (Quốc tịch Việt Nam) làm con nuôi, vì việc này không thuộc thẩm quyền của UBHC nên không hợp pháp; đồng thời, “Giao cho Sở Xây dựng cùng các ngành, các cấp liên quan tiến hành làm các thủ tục quản lý toàn bộ ngôi nhà 35 Lê Đại Hành theo chính sách của Nhà nước”. Tiếp đó, tại Thông báo số 07/TB-XD ngày 14/2/1990 của Sở Xây dựng thành phố Hải Phòng gửi Công ty Nhà cửa thành phố Hải Phòng với nội dung: Toàn bộ nhà 35 Lê Đại Hành đều thuộc quản lý của Công ty Nhà cửa và yêu cầu “Công ty cho tiến hành kiểm tra diện tích cũng như việc sử dụng của từng hộ để đăng ký sổ gia bạ, mọi người đang sử dụng tại số 35 Lê Đại Hành đều phải nộp tiền thuê nhà theo mục đích sử dụng hiện hành”. Đồng thời, Quyết định số 192/QĐ-UB ngày 27/2/1990 của UBND thành phố Hải Phòng với nội dung: Hủy nội dung “công nhận hợp pháp” việc bà Duran Camille (Pháp kiều) nhận ông Nguyễn Văn Thìn (Quốc tịch Việt Nam) làm con nuôi do UBHC khu phố Hồng Bàng thực hiện ngày 8/5/1973 tại đơn của bà Duran Camille ngày 7/5/1973. “Việc xác lập sở hữu đối với phần diện tích nhà 35 Lê Đại Hành do ông Nguyễn Văn Thìn đang sử dụng được tiến hành theo trình tự tư pháp. Sở Xây dựng chuyển toàn bộ hồ sơ việc này sang Tòa án nhân dân thành phố để tiếp tục giải quyết”.

Như vậy, theo biên bản bàn giao nhà ngày 08/01/1961 thì Nhà nước chỉ để lại nhà chính diện tích 125,57m2 và diện tích phụ là 34m2 cho cụ Duran Camille và chồng là Nguyễn Nghĩa. Ngày 02/3/1975  cụ Camille lập di chúc cho ông Thìn thừa kế toàn bộ ngôi nhà hai tầng số 35 Lê Đại Hành gồm 5 buồng tầng dưới, 5 buồng tầng trên, dãy nhà phụ dưới bếp gồm 6 buồng. Như vậy cụ Duran Camille đã định đoạt cả phần nhà đã giao cho nhà nước và định đoạt cả phần quyền sở hữu nhà ở của cụ Nghĩa trong tổng diện tích nhà chính 125,57m2 và diện tích phụ là 34m2 ở số 35 Lê Đại Hành thuộc khối tài sản chung của vợ chồng; di chúc của cụ Camille chỉ có hiệu lực đối với phần quyền sử dụng nhà ở thuộc về cụ Duran Camille. Xét phần tài sản ông Thìn đang sử dụng đã nhiều hơn phần tài sản cụ Duran Camille để lại trong khối tài sản chung với cụ Nghĩa, còn ông Thông sử dụng căn nhà 12m2 tranh chấp không quá phần thừa kế của cụ Nghĩa để lại. Năm 1970, cụ Nghĩa chết, không để lại di chúc, nên thời hiệu thừa kế đối với phần di sản của cụ Nghĩa theo qui định của pháp luật đã hết, ông Thông đang quản lý, sử dụng di sản thì ông Thông vẫn tiếp tục được quản lý sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định phần nhà đất được Nhà nước để lại nêu trên là tài sản riêng của cụ Duran Camille để lại cho ông Thìn theo di chúc và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thìn là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của gia đình ông Nguyễn Văn Thông. 

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Nguyễn Văn Thông, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm; không chấp nhận khởi kiện của ông Nguyễn Văn Thìn yêu cầu ông Nguyễn Văn Thông, bà Phạm Thị Vân phải trả lại căn nhà 12m2 tại số 10/35 phố Lê Đại Hành, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

Do được chấp nhận kháng cáo nên ông Nguyễn Văn Thông, bà Phạm Thị Vân không phải chịu án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm dân sự. Do không được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên ông Nguyễn Văn Thìn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 2 Điều 275 và Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 131 và khoản 2 Điều 132 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng khoản 3 Điều 27 và khoản 1 khoản 2 Điều 30 Pháp Lệnh án phí, lệ phí Tòa án; áp dụng Điều 17 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

1. Sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2012/DSST ngày 13/11/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về vụ án “đòi nhà cho ở nhờ” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Thìn với bị đơn là ông Nguyễn Văn Thông; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Vân.

Không chấp nhận khởi kiện của ông Nguyễn Văn Thìn yêu cầu ông Nguyễn Văn Thông và bà Phạm Thị Vân phải trả căn nhà 12m2  tại số 10/35 Lê Đại Hành, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

Ông Nguyễn Văn Thông và bà Phạm Thị Vân tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà 12m2 tại số 10/35 Lê Đại Hành, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

2. Về án phí: 

- Ông Nguyễn Văn Thìn phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. (Do bản án dân sự phúc thẩm số 95/2013/DSPT ngày 04/6/2013 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội tuyên hoàn trả ông Thìn  2.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 006281 ngày 02/11/2006 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng; nếu ông Thìn chưa nhận lại thì được trừ 200.000 đồng và ông Thìn được nhận lại 1.800.000 đồng).

- Ông Nguyễn Văn Thông và bà Phạm Thị Vân không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Bà Vân được nhận lại 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số AA/2010/001874 ngày 23/11/2012 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

- Bản án này có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án.


240
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2015/DS-PT ngày 15/10/2015 về đòi nhà cho ở nhờ

Số hiệu:27/2015/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/10/2015
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về