Bản án 264/2017/HS-ST ngày 26/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 264/2017/HS-ST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 267/2017/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2017/HSST-QĐ ngày 13 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Văn V, sinh năm 1977 tại tỉnh Bình Dương; thƣờng trú: khu phố B, phường P, thị xã T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: 52/6 khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn S, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1959; bị cáo có vợ tên Võ Thị N, sinh năm 1978 và 01 con sinh năm 1998; tiền sự: Không. Tiền án:

+ Năm 1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 15 năm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xử phạt 03 năm tù về tội trốn khỏi nơi giam.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/5/2017, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1997; địa chỉ: 521/35/21 khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn V là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 06/5/2017 Trần Văn V đến khu vực Bến Vân Đ, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người đàn ông tên T không rõ lai lịch và mua 1.800.000 đồng ma túy đá nhằm mục đích sử dụng. Sau khi mua xong V về phòng trọ của bạn gái tại khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương và sử dụng một ít, số còn lại V bỏ vào túi quần để cất giấu. Đến 15 giờ ngày 07/5/2017 V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 47P3-0782 chở Huỳnh Tấn T đi trộm xe mô tô, khi đến đường Nguyễn Tri Phương thuộc khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra công an phường An Bình phát hiện có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện xe mô tô V điều khiển có dấu hiệu cạy bung khóa, xe không có giấy tờ nên yêu cầu V và T về trụ sở Công an phường làm việc. Tại công an phường V lấy 01 gói nylon miệng kéo dính bên trong có 05 gói nylon nhỏ hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, V khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Công an phường An Bình lập biên bản tiếp nhận người phạm tội tự thú, niêm phong tang vật và  giao cho cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An xử lý.

Vật chứng trong vụ án: 01 gói nylon miệng kéo dính bên trong có 05 gói nylon nhỏ hàn kín có kích thước 02 x 01cm chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon hàn kín có kích thƣớc 03 x 03cm chứa tinh thể màu trắng.

Căn cứ kết luận giám định số 244/MT-PC54 ngày 15/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: tinh thể màu trắng trong 05 gói nylon nhỏ hàn kín thu giữ của Trần Văn V có trọng lượng 0,6082gam chứa thành phần Methamphetamine hàm lượng 69,75%, (trọng lượng tinh chất Methamphetamine 0,4242gam) và 01 gói nylon lớn hàn kín thu giữ của Trần Văn V có trọng lượng 1,2107gam có chứa thành phần Methamphetamine hàm lượng 69,52%, (trọng lượng tinh chất Methamphetamine 0,8417g). Tổng trọng lượng tinh chất Methamphetamine 1,2659gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 244/MT-PC54 ngày 15/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương nêu trên.

Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho Trần Văn V do chưa rõ nhân thân lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 47P3 – 0782 là do V và T chiếm đoạt tại địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, nên Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An chuyển cho Công an quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, xử lý theo thẩm quyền.

Tại cáo trạng số 265/QĐ– KSĐT ngày 30 tháng 8 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn V về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo diểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn V mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) bìa thư đã niêm phong số 244/PC54 bên trong chứa chất tinh thể màu trắng có Methamphetamine, trọng lượng sau  giám định là 0,5350gam (M1) và 1,0555gam (M2).

Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Khoảng 16 giờ ngày 06/5/2017 bị cáo Trần Văn V đến khu vực Bến Vân Đ, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh mua 1.800.000 đồng ma túy đá của người đàn ông tên T không rõ lai lịch, nhằm mục đích sử dụng. Sau khi mua xong V về phòng trọ của bạn gái tại khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương và sử dụng một ít, số còn lại V cất giấu trong túi quần. Đến 15 giờ ngày 07/5/2017 V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 47P3 – 0782 chở Huỳnh Tấn T khi đến đoạn đường Nguyễn Tri Phương thuộc khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra công an phường An Bình phát hiện có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành kiểm tra và yêu cầu bị cáo V, T về Công an phƣờng làm việc. Tại công an phường bị cáo V lấy 01 gói nylon miệng kéo dính bên trong có 05 gói nylon nhỏ hàn kín có kích thước 02 x 01cm chứa tinh thể màu trắng;  01 gói nylon hàn kín có kích thước 03 x 03cm chứa tinh thể màu trắng, V khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Công an phường An Bình lập biên bản tiếp nhận người phạm tội tự thú. Bị cáo Trần Văn V đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng tinh chất Methamphetamine 1,2659gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

...

p) Tái phạm nguy hiểm.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình quan điều tra và các tại liệu chứng cứ đã đƣợc thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hành vi tàng trữ 1,2659gam trọng lượng tinh chất Methamphetamine do bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự và nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo V vào ngày 26/01/1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 15 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 27/02/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xử phạt 03 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam thuộc trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích, nay bị cáo tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng. Vì vậy, thuộc tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 265/QĐ-KSĐT ngày 30 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là tiền đề của các tội trộm cắp, cướp giật, giết người và nhiều tội phạm khác, chỉ vì để thỏa mãn sự nghiện ngập của bản thân mà bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm là rất xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho mọi người hiểu biết về tác hại của ma túy và đang ra sức phòng chống. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Bị cáo tự thú, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nhận tội, có thái độ ăn năn hối cải các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện bị cáo là người sử dụng ma túy.

[7] Về xử lý vật chứng: Xét 01 (một) bìa thư đã niêm phong số 244/PC54 bên trong chứa tinh thể màu trắng có Methamphetamine, trọng lượng sau giám định là 0,5350gam (M1) và 1,0555gam (M2) là vật cấm lưu thông, cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho bị cáo do chưa rõ nhân thân lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

[9] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 47P3 – 0782 là do bị cáo Vũ và Tài chiếm đoạt tại địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, nên Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An chuyển cho Công an quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, xử lý theo thẩm quyền là đúng theo quy định.

[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[11] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn V 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2017.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bìa thư đã niêm phong số 244/PC54 bên trong có tinh thể màu trắng có Methamphetamine, trọng lượng sau giám định là 0,5350gam (M1) và 1,0555gam (M2). Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/8/2017.

Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.


109
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 264/2017/HS-ST ngày 26/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:264/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về