Bản án 26/2019/HS-PT ngày 07/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 26/2019/HS-PT NGÀY 07/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Vào ngày 07 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/TLPT-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo: Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản”. Do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HS-ST ngày 12/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

Bị cáo kháng cáo:

NGUYỄN VĂN V - sinh năm 1994 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện V1, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Sáu, sinh năm 1962 và bà: Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1962; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 07/6/2013 bị Tòa án nhân dân huyện V1 xử phạt 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 07/2013/HSST; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/10/2013.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại:

Ông: Liu Ba S, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ 11A, khu vực 5, phường T, Thành phố Q, Bình Định.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Chị Ngân Thị P, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ 11A, khu vực 5, phường T, Thành phố Q, Bình Định (Theo giấy ủy quyền ngày 26/9/2018), vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh: Trần Lê C, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn N, xã P, Huyện T1, Bình Định, vắng mặt.

2. Anh: Đặng Ngọc N, sinh năm 1990; nơi cư trú: xã P1, Huyện T1, Bình Định, vắng mặt.

3. Anh: Lê Kỳ A, sinh năm 1972; nơi cư trú: xã C, Huyện V1, Bình Định.

4. Chị: Ngân Thị P, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ 11A, khu vực 5, phường T, Thành phố Q, Bình Định, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/11/2017, Nguyễn Văn V cùng với Lê Kỳ A đến nhà chị Ngân Thị P ở Tổ 11A, KV5, phường T, thành phố Q để đóng tủ gỗ cho chị P. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi đang đóng tủ tại tầng hai cùng với A thì V đi vào phòng ngủ của chị P ở tầng 2 tìm bật lửa để hút thuốc, khi lục trong ngăn tủ nhựa thấy có điện thoại di động Iphone 6S của anh Liu Ba S là người Trung Quốc, sống chung như vợ chồng với chị P. Thấy vậy, V nảy sinh ý định muốn lấy trộm nhưng sợ bị phát hiện nên chưa thực hiện mà quay lại làm việc bình thường; đến khoảng 16 giờ 30 phút trước khi đi về, V lén đến tủ nhựa nơi để điện thoại kéo hộc tủ ra lấy trộm chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đem về nhà. Sau khi về nhà, V lấy điện thoại ra kiểm tra nhưng điện thoại được cài mật khẩu nên không sử dụng được, vì vậy V tháo sim trong điện thoại vừa lấy trộm là sim mà Liu Ba S đăng ký ở nước ngoài gắn vào điện thoại di động của mình để sử dụng nên làm phát sinh rất nhiều cước phí còn điện thoại Iphone 6S, V đem đi sửa nhưng không được nên V đem đến tiệm điện thoại CL do Trần Lê C làm chủ nói dối là điện thoại của mình và bán được 800.000đ rồi tiêu xài hết. Đối với anh Liu Ba S khi phát hiện điện thoại bị mất thì trình báo Công an. Tiến hành xác minh, Công an phường T phát hiện Nguyễn Văn V là người sử dụng sim điện thoại số 008618613056223 của Liu Ba S nên tiến hành điều tra. Qua điều tra, V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đồng thời đã tìm chuộc lại điện thoại để giao cho Cơ quan điều tra và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại.

Ngày 12/01/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phốQuy Nhơn xác định giá trị điện thoại di động mà V lấy trộm tại thời điểm xảy ra là 7.500.000đ. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường.

* Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSBĐ-P3 ngày 29/8/2018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Trộm cẳp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS để xét xử đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.

* Tại phiên tòa, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 6 đến 9 tháng tù.

* Về bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và đã được bồi thường xong, nên không xem xét.

* Bị cáo Nguyễn Văn V không bào chữa, không tranh luận, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 12/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn tuyên quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/10/2018 bị cáo Nguyễn Văn V kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo giữ yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có quan điểm: Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, theo Nghị quyết 01/2013/NQ- HĐTP ngày 6/11/2013 của Hội đồng thẩm phán Tào án nhân dân tôi cao thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo; do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã kết tội, nhưng xin cho được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo thấy: Ngày 07/6/2013 bị cáo Nguyễn Văn V bị Tòa án nhân dân huyện V1 xử phạt 03 (ba) tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 07/2013/HSST , bị cáo chấp hành xong hình phạt tù tại trại giam Kim Sơn - Bộ Công an vào ngày 18/10/2013 nhưng đến nay chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm 200.000, ( Hai trăm ngàn) đồng theo quyết định của bản án, theo quy định tại Điều 60, Điều 70 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì bị cáo chưa được đương nhiên xóa án tích; Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đối với bị cáo là thiếu sót và có lợi cho bị cáo. Hành vi của bị cáo trộm cắp máy điện thoại của anh Liu Ba S (quốc tịch Trung quốc) trị giá 7.500.000, ( Bảy triệu, năm trăm ngàn) đồng đã xâm phạm quyền sở hữu của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương; mức hình phạt 6 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt là phù hợp tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và nhân thân của của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; do vậy không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho bị cáo được hưởng án treo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, số tiền 200.000, ( Hai trăm ngàn ) đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Áp dụng : Khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 06 (sáu) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HSST ngày 12/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000,( Hai trăm ngàn )đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


64
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về