Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 15/08/2019 về tranh chấp kiện ly hôn, nuôi con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ – TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 26/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/08/2019 VỀ TRANH CHẤP KIỆN LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 15 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp kiện xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số nhà 33, khu 5, thị trấn C, huyện L, tỉnh H.

- Bị đơn: Anh Lê Đức Th, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh H.

Tại phiên tòa có mặt chị H, anh Th vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, lời khai của các đương sự và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:

Chị Dương Thị H và anh Lê Đức Th kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26 tháng 7 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện L, tỉnh H. Trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán của địa phương. Sau kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn.

- Quan điểm của chị Dương Thị H: Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng thường xuyên đánh cãi, chửi nhau nên vợ chồng sống không hòa hợp dẫn tới tình trạng mâu thuẫn ngày càng trở lên căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Thời gian sống ly thân không ai quan tâm tới ai nữa, chấm dứt quan hệ tình cảm vợ chồng. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Lê Đức Th không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh anh Lê Đức Th.

- Quan điểm của anh Lê Đức Th: Nguyên nhân mâu thuẫn là do cô H tự ý bỏ nhà đi không nói gì với anh cho nên xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm tới ai nữa, chấm dứt quan hệ tình cảm vợ chồng. Nay chị H xin ly hôn thì quan điểm của anh là muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con chung.

* Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Lê Hà V, sinh ngày 12/05/2014 (con gái). Hiện nay con chung đang ở với chị H và do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng xin nuôi con chung và yêu cầu anh Lê Đức Th cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000đ (một triệu đồng). Anh Lê Đức Th đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng nhưng anh chỉ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 500.000đ.

Con nuôi, con riêng: Vợ chồng không có. Hiện chị H không có thai nghén gì.

* Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và các nghĩa vụ đóng góp khác: Không yêu cầu giải quyết.

* Tại phiên toà hôm nay: Chị H vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đức Th; về con chung chị xin nuôi cháu Lê Hà V, sinh ngày 12/05/2014 (con gái) và không yêu cầu anh Lê Đức Th cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tại phiên tòa hôm nay anh Lê Đức Th vắng mặt nhưng trong đơn xin xử vắng mặt thể hiện nguyện vọng của anh là mong muốn vợ chồng đoàn tụ về nuôi dạy con chung; Về con chung anh đồng ý giao con chung cho chị H nuôi, anh có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng là 500.000đ. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và các nghĩa vụ chung khác anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), những người tham gia tố tụng; ý kiến về việc giải quyết vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như: thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

- Việc tuân theo pháp luật của HĐXX và Thư ký tại phiên tòa: Tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Sau khi trình bày và phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét quan điểm, nguyện vọng của đương sự tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX xem xét, quyết định:

Căn cứ điều 28, 35, 39, 68, 144, 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điều 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Dương Thị H. Xử ly hôn giữa chị Dương Thị H và anh Lê Đức Th.

2. Về con chung: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Dương Thị H và anh Lê Đức Th, giao chị Dương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung là Lê Hà V, sinh ngày 12/05/2014 (con gái), anh Lê Đức Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

3. Về con nuôi, con riêng: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đề cập.

4.Về tài sản, công nợ và các nghĩa vụ đóng góp khác: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập.

5. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Dương Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. HĐXX, thấy:

* Về thẩm quyền: Xét thấy yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung giữa chị Dương Thị H và anh Lê Đức Th thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam theo trình tự sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về xét xử vắng mặt bị đơn: Anh Lê Đức Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh Th đã có đơn xin xét xử vắng mặt và thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

[1] Cuộc hôn nhân giữa chị Dương Thị H và anh Lê Đức Th là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 26 tháng 7 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện L, tỉnh H nên đã thoả mãn các điều kiện, trình tự, thủ tục kết hôn được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bảo vệ.

[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị H, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H và anh Th đã có một thời gian chung sống hạnh phúc và đã có con chung, sau đó vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn hai bên đưa ra là phù hợp và vợ chồng đã sống ly thân. Thời gian ly thân vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án và HĐXX đã phân tích, khuyên bảo chị H về đoàn tụ, nhưng chị H vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh Th. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Th thực sự căng thẳng là thực tế, mục đích hôn nhân không đạt, vợ chồng không thể đoàn tụ được nên yêu cầu của chị H xin được ly hôn với anh Th là phù hợp với quy định tại Điều 54, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng cùng thống nhất có con một chung là Lê Hà V, sinh ngày 12/05/2014 (con gái). Xét nguyện vọng xin nuôi con chung của chị H, Hội đồng xét xử (HĐXX) thấy rằng: Về mặt kinh tế, chỗ ở, điều kiện chăm sóc, nuôi dạy con chung của chị H đảm bảo cho cháu V. Mặt khác, tại Tòa án anh Th cũng có lời khai nếu ly hôn anh giao con chung của vợ chồng cho chị H nuôi. Do đó, HĐXX cần giao cho chị H nuôi con chung là phù hợp với thực tế và pháp luật. Chị H không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng cùng chị nên HĐXX cần xem xét chấp nhận. Các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con chung mà người không trực tiếp nuôi dưỡng thực hiện theo quy định của pháp luật.

Con nuôi, con riêng: Vợ chồng thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay chị H không có thai nghén gì.

[4] Về tài sản chung, tài sản riêng và công nợ: Chị H và anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; và các Điều 143; 144; 147; 227; 228; khoản 2 Điều 244; 271; 273; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Xử ly hôn giữa chị Dương Thị H và anh Lê Đức Th.

2/ Về con chung: giao chị Dương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Lê Hà V, sinh ngày 12/05/2014 (con gái). Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng cùng chị H.

Hai bên có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Không bên nào được cản trở quyền gặp gỡ, chăm sóc và thăm nom con chung.

Con nuôi, con riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết (nếu có yêu cầu thì các đương sự có quyền khởi kiện ở vụ án khác.

Hiện chị H không có thai nghén gì.

3/ Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và các nghĩa vụ chung, công sức đóng góp: Không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4/ Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Dương Thị H phải nộp 300.000đ được đối trừ với số tiền là 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2015/0002101 ngày 28/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Án xử công khai sơ thẩm, chị H có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Th vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


82
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 15/08/2019 về tranh chấp kiện ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:26/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về