Bản án 26/2018/HS-ST ngày 07/02/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 26/2018/HS-ST NGÀY 07/02/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2018/HSST ngày 18 tháng 01 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Sồng A C1, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1992 tại huyện Y, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: Bản D, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Sồng A C2, sinh năm 1962 và bà Mùa Thị K, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ: Hạng Thị S, sinh năm 1990; bị cáo có 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 11 năm 2017 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ, ngày 27 tháng 11 năm 2017 tại bản L, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La tổ Công tác Công an huyện Y, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang Sồng A C1, sinh ngày 14/7/1992, trú tại bản D, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu xanh bên trong có các cục màu trắng nghi là Heroine. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sồng A C1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu toàn bộ vật chứng.

Ngày 28/11/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bỏ mở niêm phong, cân tịnh xác định trọng lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định số vật chứng thư giữ khi bắt quả tang của Sồng A C1, cụ thể như sau:

- Trọng lượng 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Sồng A C1 có trọng lượng 0,30 gam, trích 0,04 gam kí hiệu H gửi PC54 Công an tỉnh Sơn La để trưng cầu giám loại chất ma túy, trọng lượng ma túy, vật chứng còn lại 0,26 gam ký hiệu L.

Tại bản kết luận giám định số: 34/KLMT ngày 04/12/2017 Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu vật gửi giám định ký hiệu H là chất ma túy; Loại chất Heroine; Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,04 gam; Tổng cộng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 0,30 gam loại chất Heroine”.

Tại phiên tòa bị cáo được xét hỏi, thẩm tra trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình cũng như trong quá trình điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo đều nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Sồng A C1 khai nhận: Khoảng 11 giờ, ngày 27/11/2017, Sồng A C1 mang theo số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), điều khiển xe máy WINE, nhãn hiệu WAZEHUNDA, màu đen, biển kiểm soát: 26 B1-180.30 đi từ bản D, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La đến bản T, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đầu bản T, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La, Sồng A C1 gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 60 tuổi, không biết tên, địa chỉ đang đi bộ trên đường, Sồng A C1 dừng xe máy hỏi mua ma túy. Qua nói chuyện C1 biết người phụ nữ này có ma túy bán, C1 hỏi mua được của người phụ nữ này 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh với giá tiền 300.000 đồng, Sồng A C1 nhận gói Heroine rồi cất giấu vào trong túi áo ngực bên phải đang mặc trên người. Sau đó Sồng A C1 điều khiển xe máy theo đường cũ, đến khoảng 13 giờ cùng ngày Sồng A C1 đến bản L, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La với mục địch tìm người nghiện ma túy để bán gói Heroine vừa mua được để bán kiếm lời thì bị bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT - VKSYC ngày 18 tháng 01 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo với nội dung: Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử đối với bị cáo Sồng A C1 về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, nhưng giai đoạn xét xử Bộ luật hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật, để đảm báo hướng có lợi cho bị cáo cần đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt bị cáo Sồng A C1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng nhập kho vụ Sồng A C1 mua bán trái phép chất ma túy ngày 27/11/2017, bên trong có mẫu L = 0,26 gam + 01 mảnh giấy nilon màu xanh và 01 vỏ phòng bì đã bóc mở”. Mặt sau phong bì tại các mép dán có tên, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và người bị bắt. Tại hai góc mép dán có hai hình dấu đỏ của Phòng PC54 – Công an tỉnh Sơn La.

Tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu GIONEE – L800, số IMEI: 860794027623765, máy cũ đã qua sử dụng để đảm bảo công tác thi hành án phần án phí.

Tuyên nộp ngân sách Nhà nước 01 xe máy hiệu WINE, màu sơn đen, BKS:26B1 – 180.30, tình trạng xe cũ nát, xe không giấy tờ kèm theo, không chìa khóa, xe đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 03/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Sồng A Cáng chịu án phí HSST 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng là bị cáo Sồng A C1 xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình ự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Sồng A C1 khai nhận toàn bộ hanh vi phạm tội của mình, như đã khai tại cơ quan điêu tra , số Heroine của bị cáo bị Tổ công tác Công an huyện Yên Châu thu giữ có nguồn gốc là bị cáo mua người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi, bị cáo không khai gì thêm so với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sồng A C1 do tổ công tác Công an huyện Yên Châu lập vào hồi 13 giờ, ngày 27/11/2017 biên bản thu giữ vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng lấy mẫu giám định, bản kết luận giám định số: 34/KLMT, ngày 04/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận mẫu gửi giám định ký hiệu H gửi giám định là Heroine nằm trong danh mục I, Stt: 20 Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX xét thấy: Bị cáo Sồng A C1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc mua bán, sử dụng ma úy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 27/11/2017 bị cáo Sồng A C1 đã có hành vi tàng trữ 0,30 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng, nhưng giai đoạn xét xử Bộ luật hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật cần đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội:

Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải.

Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện chất ma túy; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Từ những đánh giá nêu trên HĐXX xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Đối với 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng nhập kho vụ Sồng A C1 mua bán trái phép chất ma túy ngày 27/11/2017, bên trong có mẫu L = 0,26 gam + 01 mảnh giấy nilon màu xanh và 01 vỏ phòng bì đã bóc mở”. Mặt sau phong bì tại các mép dán có tên, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và người bị bắt. Tại hai góc mép dán có hai hình dấu đỏ của Phòng PC54 – Công an tỉnh Sơn La. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại di động hiệu GIONEE – L800, số IMEI: 860794027623765, máy cũ đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng để liên lạc, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, có giá trị không lớn và không liên quan đến hành vi phạm tội, cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án phần án phí.

Đối với 01 xe máy WINE, nhãn hiệu WAZEHUNDA, màu sơn đen, BKS: 26B1 – 180.30, tình trạng xe cũ nát, xe không giấy tờ kèm theo, không chìa khóa, xe đã qua sử dụng bị cáo đã dùng xe máy thuộc sở hữu của mình để đi mua Heroine về sử dụng và bán kiếm lời đây là công cụ, phương tiện dùng vào mục đích phạm tội cần tuyên nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 03/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Sồng A C1 chịu án phí HSST 200.000 (Hai trăm nghìn) Đồng.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số Heroine quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Sồng A C1 khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ, nơi trao đổi mua bán ma túy diễn ra ở ngoài đường không ai biết, chứng kiến, vì vậy cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Sồng A C1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội:

Xử phạt bị cáo Sồng A C1 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 27/11/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vật chứng nhập kho vụ Sồng A C1 mua bán trái phép chất ma túy ngày 27/11/2017, bên trong có mẫu L = 0,26 gam + 01 mảnh giấy nilon màu xanh và 01 vỏ phòng bì đã bóc mở”. Mặt sau phong bì tại các mép dán có tên, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và người bị bắt. Tại hai góc mép dán có hai hình dấu đỏ của Phòng PC54 – Công an tỉnh Sơn La.

Tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu GIONEE – L800, số IMEI: 860794027623765, máy cũ đã qua sử dụng để đảm bảo công tác thi hành án phần án phí.

Tuyên nộp ngân sách Nhà nước 01 xe máy WINE, nhãn hiệu WAZEHUNDA, màu sơn đen, BKS: 26B1 – 180.30, số máy: 197478, số khung: 197478 tình trạng xe cũ nát, xe không giấy tờ kèm theo, không chìa khóa, xe đã qua sử dụng.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Sồng A C1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


92
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về