Bản án 26/2018/HNGĐ-PT ngày 10/01/2018 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 26/2018/HNGĐ-PT NGÀY 10/01/2018 VỀ TRANH CHẤP THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Ngày 10 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2017/TLPT-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2017 về việc “tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Do bản án dân sự sơ thẩm số 99/2017/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 11 năm 2017 của TAND thành phố HL bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 113/2017/QĐ-PT ngày 19 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L

ĐKNKTT: Tổ 01, khu 02, phường A, TP. HL, tỉnh Quảng Ninh.

Chỗ ở hiện nay: Tổ 01, khu 02, phường A, TP. HL, tỉnh Quảng Ninh, có mặt .

Bị đơn: Anh Vũ Ngọc T (tên gọi khác L)

ĐKNKTT: Tổ 01, khu 02, phường A, TP. HL, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn Vũ Ngọc T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận các đương sự số 401/2017/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2017 của Toà án nhân dân thành phố HL đã quyết định giao con chung Vũ Thị Thanh T, sinh ngày 01/01/2016 cho anh Vũ Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con tròn 18 tuổi. Nay chị L đề nghị Toà án chuyển quyền nuôi con sang cho chị với lý do:

- Do không am hiểu pháp luật nên chị đã đồng ý giao con chưa đủ 12 tháng tuổi cho anh Vũ Ngọc T nuôi dưỡng;

- Sau khi ly hôn, những lần chị đến thăm con tại nhà anh T thấy con gái xanh và gầy yếu, chị thấy anh T nuôi con khó khăn vì anh là đàn ông chăm nuôi con còn quá nhỏ, lại là con gái càng khó khăn hơn;

- Lương của chị là 6.680.000đồng/tháng, lương của anh T mỗi tháng được hơn 3.000.000đồng cộng với tiền trợ cấp nuôi con chị đóng góp 1.000.000đồng/tháng, anh T còn phải nuôi mẹ già không có lương nên anh T không đủ tiền để nuôi con;

- Anh T nuôi con không được hưởng chế độ nghỉ thai sản, chị là mẹ cháu Thanh T có đủ tiêu chuẩn nghỉ chế độ chăm sóc con chưa đủ 36 tháng tuổi;

- Chị không yêu cầu anh T phải đóng góp phí tổn nuôi con chung nếu như chị được nuôi con chung.

- Hiện chị có 01 nhà riêng cho thuê nên có thu nhập thêm là 1.600.000đồng và có 01 nhà riêng để ở tại tổ 01, khu 01, phường HK, TP. HL nên chị đủ điều kiện nuôi con chung.

Bị đơn anh Vũ Ngọc T không đồng ý yêu cầu khởi kiện của chị L vì: Hai vợ chồng anh đã đồng ý thuận tình giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Từ khi có quyết định của Toà án đến nay, bố con anh có cuộc sống yên ổn,  anh và gia đình vẫn cho chị L sang thăm con chung không ai ngăn cản, cấm đoán. Nếu chị L suy nghĩ lại vẫn còn thương bố con anh, thì anh vẫn tạo điều kiện cho chị L quay về  để vợ chồng chung sống như trước cùng nuôi dạy con cái thành người, để con có tình cảm giữa bố và mẹ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 99/2017/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 11 năm 2017 của TAND thành phố HL đã quyết định Căn cứ vào:

- Các Điều 58, 81,82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử :

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn chị Vũ Thị L.

Giao con chung Vũ Thị Thanh T, sinh ngày 01/01/2016 cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Anh Vũ Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L. Anh Vũ Ngọc T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Ngoài ra Tòa án còn quyết định việc chịu án phí, thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự

Ngày 07/11/2017 anh Vũ Ngọc T làm đơn kháng cáo với nội dung, xin được trực tiếp nuôi con chung Vũ Thị Thanh T, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh T có quan điểm xin được nuôi con vì anh đang nuôi con.

Quan điểm của Viện Kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Anh T với chị L có một người con chung là Vũ Thị Thanh T sinh ngày01/01/2016. Xét về khả năng, điều kiện nuôi con thì anh Tuyến với chị Lan đều khỏe mạnh, có việc làm, có chỗ ở, nên có khả năng nuôi con. Tuy nhiên xét thấy hiện tại cháu Vũ Thị Thanh T còn rất nhỏ (chưa đầy 13 tháng tuổi) nên về mặt tâm sinh lý, cách thức chăm nom con cái thì chị L sẽ chăm sóc con tốt hơn anh T, đồng thời khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân gia đình cũng quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con” trong trường hợp này chị L đủ điều kiện để trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Bởi vậy TAND thành phố HL giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng người con chung  Vũ Thị Thanh T là có căn cứ. Do đó Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của anh T.

[2] Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì anh T phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm và 300.000đ án phí phuc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Vũ Ngọc T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ Điều 58, 81,82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm2014; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Vũ Thị L.

Giao người con chung Vũ Thị Thanh T, sinh ngày 01/01/2016 cho chị Vũ Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi  đủ 18 tuổi.

Anh Vũ Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L. Anh Vũ Ngọc T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Anh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, và 300.0000đ án phí phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh T nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002237 ngày 10/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HL được trừ vào tiền án phí anh T phải nộp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


182
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về