Bản án 26/2017/HSST ngày 27/9/2017 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 26/2017/HSST NGÀY 27/9/2017 VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Vào hồi 14 giờ ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2017/HSST ngày 08/9/2017 đối với:

Bị cáo: Chu Văn T - Sinh ngày 01/6/1998

Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã C, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: lớp 10/12

Con ông: Chu Văn H, sinh năm 1976

Con bà: Chu Thị S, sinh năm 1980

Anh chị em ruột: Thế là con duy nhất trong gia đình

Vợ, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 05/6/2017, đến ngày 29/8/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại tại địa phương có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1. Lê Thị Hà G – Sinh ngày 05/3/1983 Vắng mặt

Trú tại: Thôn H, xã V, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

2. Dư Thị Thanh T – Sinh ngày 22/02/1993 Vắng mặt

Trú tại: Ký túc xá B, Đại học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh, phường Đông Hòa, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Trần Thị Mỹ U – Sinh ngày 10/01/1990 Vắng mặt

Trú tại: Số A,  Đ, phường T, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh.

4. Phạm Thị T – Sinh ngày 08/7/1991 Vắng mặt

Trú tại: Xóm G, xã Thanh L, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chu Văn S – Sinh ngày 09/10/1982

Trú tại: Thôn B, xã C, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

2. Nguyễn Thị L – Sinh ngày 12/12/1975 Vắng mặt

Trú tại: Thôn S, xã C, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

NHẬN THẤY

Bị cáo Chu Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng tháng 8/2016, bị cáo lập các tài khoản Facebook “Dũng Nguyễn”, “Nguyễn Đình Nhật”  hay “Ngọc Cường” và sử dụng các tài khoản này để đăng nhiều tin quảng cáo trên facebook nhận tăng like, tăng follow, tăng share và nhận chạy quảng cáo fanpage. Sau nhiều giao dịch đã thực hiện xong, nhận thấy trên mạng ảo intenet không ai biết bị cáo nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của khách. Khoảng tháng 9/2016, bị cáo nhờ bạn trên mạng có tài khoản Facebook “Phuong Van Dao” giúp bị cáo tạo ra một hình ảnh CMND giả có các thông tin: Số CMND: 021415083; Họ và tên: Chu Vấn Thể; Sinh ngày: 09/11/1990; HKTT: tổ 6, Đông Hòa, Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh để tạo niềm tin cho khách hàng khi giao dịch.

Các lần tìm kiếm và giao dịch với khách hàng bị cáo ra quán internet của chị Nguyễn Thị Loan, hoặc sử dụng điện thoại di dộng cá nhân. Nhằm che dấu thông tin cá nhân, bị cáo gửi hình ảnh chứng minh thư giả và cung cấp số tài khoản 0641000019163 có tên Chu Vấn Thể tại Vietcombank ở thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu khách hàng chuyển tiền vào. Thực chất tài khoản này Chu Văn T mở tại Phòng giao dịch Nghi Xuân ở thị trấn Xuân An, Nghi Xuân, Hà Tĩnh thuộc chi nhánh ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh. Vì giao dịch chuyển tiền chỉ cần số tài khoản, họ tên chủ thẻ lưu trên dữ liệu ngân hàng không có dấu và không cần thiết ghi rõ chi nhánh. Sau khi nhận được tiền của khách hàng bị cáo không thực hiện thỏa thuận mà cắt đứt mọi liên lạc với khách hàng để nhằm mục đích chiếm đoạt tiền. Với thủ đoạn trên, Chu Văn T đã sử dụng mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào ngày 08/9/2016, chị Lê Thị Hà G dùng tài khoản facebook “Lê Thị Hà G” nhắn tin cho bị cáo qua tài khoản facebook “Nguyễn Đình Nhật” thỏa thuận về việc chạy quảng cáo fanpage “Du lịch Song Hiền” để tìm kiếm khách hàng mua tinh bột nghệ và dạy cách chạy quảng cáo. Bị cáo đã yêu cầu chị G cung cấp thông tin sản phẩm và cấp cho bị cáo quyền cùng quản trị fanpage “Du lịch Sông Hiền” và thỏa thuận chi phí chạy quảng cáo 3.500.000 đồng. Bị cáo yêu cầu chị G chuyển tiền vào số tài khoản ngân hàng Vietcombank 0641000014986 mang tên Trần Quốc Toàn, trú tại thôn Trung Sơn, xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là người bạn bị cáo đang nợ tiền. Sau khi nhận được tiền bị cáo cắt liên lạc và không thực hiện chạy quảng cáo fanpage cho chị G ngoài ra còn thay đổi mật khẩu chiếm quyền quản trị fanpage “Du lịch Sông Hiền”, hiện fanpage “Du lịch Sông Hiền” bị mất không thể khôi phục được. Sau khi khởi tố vụ án, chị Giang đã được gia đình bị cáo bồi thường số tiền trị giá 23.500.000 đồng trong đó 20 000 000 đồng là giá trị của fanpage “Du lịch Sông Hiền” bị mất do các bên tự thỏa thuận.

- Lần thứ hai: Vào ngày 28/9/2016 chị Dư Thị Thanh T cần thanh toán nợ tài khoản fanpage nên dùng tài khoản facebook “Dư Thị Thanh T” liên lạc với bị cáo qua tài khoản facebook “Dũng Nguyễn” “ Ngọc Cường” và số điện thoại 0967 010 698 thỏa thuận với bị cáo thanh toán giúp. Bị cáo đã gửi “số tài khoản: 0641000019163, Tên: Chu Vấn Thể, ngân hàng: Vietcombank, Chi nhánh: HCM” và yêu cầu chị T chuyển 3 150 000 đồng vào tài khoản. Sau khi nhận được tiền bị cáo không thực hiện thỏa thuận đồng thời chặn tài khoản facebook của chị T tại hai tài khoản facebook “Ngọc Cường” và “Dũng Nguyễn” để cắt đứt liên lạc với chị T.

- Lần thứ ba: Ngày 03/10/2016, bị cáo dùng tài khoản facebook “Ngọc Cường” và số điện thoại 0967 010 698 trao đổi tài khoản facebook “Nguyễn Thị Thư” của chị Phạm Thị T đang đăng tin cần thuê người chạy quảng cáo fanpage bán mỹ phẩm. Để tạo sự tin tưởng bị cáo gửi ảnh chứng minh thư nhân dân giả và số tài khoản 0641000019163. Theo yêu cầu của bị cáo chị T đã chuyển 3.600.000 đồng vào tài khoản, sau khi nhận được tiền bị cáo còn chiếm quyền quản trị fanpage “Mỹ phẩm Topwhite Hà Nội” và cắt đứt liên lạc với chị T.

- Lần thứ tư: Vào khoảng đầu tháng 10 năm 2016, chị Trần Thị Mỹ U, sử dụng tài khoản facebook “Trần Thị Mỹ U” nhắn tin cho bị cáo qua tài khoản facebook “Ngọc Cường” và số điện thoại 0967 010 698 để trao đổi và thỏa thuận việc thuê bị cáo chạy quảng cáo fanpage. Bị cáo đã gửi hình ảnh chứng minh thư giả và số tài khoản 0641000019163 yêu cầu chị U chuyển tiền. Sau khi nhận được 2 000 000 đồng của chị Uyên bị cáo yêu cầu chị U chuyển thêm 6.000.000 đồng. Nhận được tiền nhưng bị cáo không chạy quảng cáo fanpage cho chị U như đã thỏa thuận và yêu cầu chị U tài khoản đã bị khóa, muốn chạy quảng cáo phải chuyển thêm 6.000.000 đồng để mở khóa. Chị U nghi ngờ không chuyển. Sau đó bị cáo đã chặn facebook chị U để cắt đứt liên lạc.

Vật chứng vụ án: 01 chiếc điện thoại di động; 01 sim điện thoại số 0967 010 698 thu giữ của Chu Văn T, đặc điểm có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án huyện Nghi Xuân.

Trách nhiệm dân sự: Chu Văn T trả lại cho chị Phạm Thị T số tiền 3.600.000 đồng; Bồi thường cho chị Dư Thị Thanh T số tiền 3.150.000 đồng; Bồi thường cho chị Trần Thị Mỹ U số tiền 8.000.000 đồng; Bồi thường cho chị Lê Thị Hà G số tiền 23.500.000 đồng. Hiện các bị hại không có yêu cầu gì và đều có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản cáo trạng số: 30/CTr - KSĐT, ngày 07/9/2017 đã truy tố thống nhất nội dung luận tội và tranh luận tại phiên tòa của diện Viện kiểm sát:

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 2 điều 226b điểm b,p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 điều 7, điểm b khoản 2 điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 điều 2 và điểm b khoản 1 điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chu Văn T từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày 27/9/2017.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Nghi Xuân; Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan, những người tiến hành tố tụng. Nên hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo Chu Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy HĐXX có đủ kết luận: Từ khoảng tháng 8 đến tháng 10 năm 2016 bị cáo Chu Văn T đã sử dụng mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của khách hàng 4 lần với giá trị tài sản chiếm đoạt 18 250 000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống mạng Internet để thực hiện, bản thân bị cáo là người am hiểu về mạng, biết các thủ thuật về mạng Internet để thực hiện các dịch vụ tăng like (lượt thích) tăng follow (lượt theo dõi), tăng share (lượt chia sẻ) từ đó thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên mạng.

Đây là yếu tố chủ thể mang tính chất đặc trưng để phân biệt tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điều 139 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 226b Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đưa ra chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh theo Cáo trạng đã viện dẫn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội này có hình phạt nhẹ hơn Bộ luật hình sự 1999, nên HĐXX cần áp dụng thêm khoản 3 điều 7, điểm b khoản 2 điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm môi trường lành mạnh của thị trường thương mại điện tử và quyền sở hữu tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang cộng đồng sử dụng mạng Internet và làm mất niềm tin của cá nhân, tổ chức trong hoạt động thương mại điện tử hiện được Đảng, Nhà nước khuyến khích pháp triển. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giá trị fanpage “Du lịch sông Hiền” và “Mỹ phẩm topwhite Hà Nội” do bị cáo chiếm đoạt chưa có căn cứ để định giá theo quy định của pháp luật nên căn cứ giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt 18 250 000 đồng để truy tố là phù hợp.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả được quy định tại điểm b,p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu, các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đây không phải tình tiết giảm nhẹ hình phạt nhưng cũng cần thiết xem xét khi lượng hình phù hợp với khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà áp dụng thêm điều 60 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp tinh thần Nghị quyết số 01/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Bị cáo có sử dụng máy vi tính làm công cụ, phương tiện phạm tội nhưng khi thực hiện chị Nguyễn Thị L không biết nên không truy cứu trách nhiệm liên quan.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Hình phạt bổ sung như phạt tiền: Xét bị cáo chưa có nghề nghiệp ổn định, khó khăn về kinh tế, chưa có tài sản riêng nên không áp dụng.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước là phù hợp.

Biện pháp tư pháp: Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại nên không cần truy thu số tiền bị cáo phạm tội mà có để sung quỹ.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và bị cáo tự thỏa thuận không yêu cầu gì, HĐXX miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

1.Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 điều 226b; các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 điều 46, điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 điều 7, điểm b khoản 2 điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Xử phạt Chu Văn T 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày 27/9/2017.

Giao bị cáo Chu Văn T cho UBND xã Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, hóa giá 01 chiếc điện thoại di động; 01 sim điện thoại số 0967 010 698 thu giữ của Chu Văn T. Các vật chứng có đặc điểm tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án huyện Nghi Xuân.

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 điều

21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Chu Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người tham gia tố tụng khác vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.


147
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về