Bản án 26/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội cướp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 26/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Uỷ ban nhân dân xã M, huyện L, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2017/HSST ngày 14/8/2017 đối với bị cáo:

Phạm Văn H  sinh ngày 20/8/1989, tại huyện E, tỉnh Đắc Lắc; trú tại thôn 5, xã E, huyện E , tỉnh Đắc Lắc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 6/12; con ông Phạm Văn T và bà Lưu Thị T; có vợ Bùi Thị T và con Phạm Thị Huyền T, sinh năm 2011; tiền sự:  không, tiền án: 01 tiền án. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lệ Thủy từ ngày 26/4/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1984; trú tại C, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1988; trú tại X,   xã V, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

2. Chị Trần Thị D, sinh năm 1983; trú tại thôn L, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Phạm Văn H bị VKSND huyện Lệ Thủy truy tố về hành vi phạm tội như sau: Sau khi mượn cây dao của một nhà dân ở Bản B, xã K, huyện L, Quảng Bình để gỡ bỏ võ cây keo quấn vào xe mô tô, Phạm Văn H không mang dao trả mà giữ lại với ý định sử dụng dao này đe dọa người đi đường nhằm chiếm đoạt tài sản. Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 24/4/2017, H để dao kẹp trước xe mô tô của anh Nguyễn Văn A, ở thôn X, xã V, huyện L, tỉnh Quảng Bình (anh A thuê H nuôi ong) rồi điều khiển xe chạy trên đường 565 hướng từ xã K đi xã M nhưng không thấy có ai nên H quay lại, khi đến địa phận thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, H phát hiện chị Ngô Thị H ở thôn C, xã M điều khiển xe mô tô phía trước ngược chiều. Khi chạy vượt qua xe chị H, H cho quay xe lại và đuổi theo, khi đến gần chị H, H hỏi chị H đường về đồn biên phòng, chị H cho xe dừng lại thì H rút dao kẹp trước xe ra làm chị H hoảng sợ nên bị ngã sang bên phải đường. H một tay cầm dao, một tay nắm cổ áo chị H kéo vào trong rừng, cách đường khoảng 09 mét và đe dọa “Chị mà la lên, tôi giết” và yêu cầu chị H đưa tiền, điện thoại cho H. Vì sợ ảnh hưởng đến tính mạng, chị H lấy điện thoại ra và đút vào túi quần theo yêu cầu của H. Không dừng lại ở đó, H tiếp tục dí dao vào cổ chị H, bắt chị H kéo áo khoác ngoài xuống, tháo sợi dây chuyền vàng đưa cho H. Sau khi lấy được tài sản, H điều khiển xe mô tô chạy lên đường Hồ Chí Minh, vứt dao bên đường, vào nhà chị Võ Thị V ở thôn L, xã T, huyện L gửi xe mô tô, rồi đi taxi về cửa hàng vàng bạc đá quý K ở phường H, thành phố Đ bán sợi dây chuyền vàng được 2.500.000 đồng. Số tiền bán được, H mua ma túy hết 1.000.000 đồng, trả tiền taxi 700.000 đồng, ăn uống hết 200.000 đồng. Riêng điện thoại di động hiệu Sam sung J7 Prime H giữ lại bên người.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Lệ Thuỷ tạm giữ: 01 cây dao; 01 dây chuyền vàng; 02 điện thoại di động; 600.000 đồng; túi xách bằng vải màu đen bên trong đựng quần áo; xe mô tô BKS 47M5-7796 cùng các giấy tờ liên quan đến xe mô tô trên. Tất cả có đặc điểm như các biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu ngày 26/4/2017.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14 ngày 22/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lệ Thủy kết luận: 01 dây chuyền vàng 2,23 chỉ, loại vàng K12 có giá trị 3.345.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Sam sung J7 Prime có giá trị 5.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Lệ Thuỷ đã thu giữ và trả lại 01 dây chuyền vàng 2,23 chỉ và điện thoại di động hiệu Sam sung J7 Prime cho chị Ngô Thị H; 01 xe mô tô BKS 47M5-7796 cho anh Nguyễn Văn A.

Riêng cây dao H dùng để gây án do cơ quan điều tra thu giữ; số tiền 600.000 đồng, túi xách bằng vải màu đen, áo sơ mi dài tay màu trắng, áo khoác gió màu đen, quần bò màu xanh, điện thoại di động hiệu NOKIA màu đỏ thu giữ từ H, cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ và chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Ngô Thị H, anh Nguyễn Văn A đã nhận lại tài sản bị cướp và xe mô tô BKS 47M5-7796 H mượn của anh A, chị H, anh A không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 26/THQCT- KSĐT- XPSH ngày 14/8/2017, VKSND huyện Lệ Thủy  truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “ Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật hình sự(BLHS). Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Lệ Thuỷ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng các điểm g khoản 1 Điều 48, các điểm b, p  khoản 1 Điều 46; của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo  Phạm Văn H từ 07 đến 7 năm 6 tháng tù.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ tòa diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn H khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra thu thập. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 24/4/2017, tại đoạn đường 565 thuộc địa phận thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, Phạm Văn H đã dùng dao uy hiếp, khống chế đe dọa sẽ giết để chiếm đoạt tài sản của chị Ngô Thị H gồm 01 dây chuyền vàng và 01 điện thoại di động hiệu Sam sung J7 Prime rồi tẩu thoát theo đường 565 lên đường Hồ Chí Minh. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt theo kết quả định giá là 8.345.000 đồng. Tài sản bị cáo cướp của chị H, bị cáo đưa bán cho chị Trần Thị D nhân viên Công Ty TNHH vàng bạc, đá quý K phường H, thành phố Đ 2.500.000đồng.

Hành vi của bị cáo Phạm Văn H khống chế, đe doạ sẽ giết ngay tức khắc đã làm cho chị H hoảng sợ, lâm vào tình trạng không thể chống cự được, buộc phải đưa tài sản cho bị cáo để bảo vệ tính mạng, sức khỏe đã đủ cơ sở để HĐXX kết luận bị cáo phạm vào tội “Cướp tài sản”. Bị cáo đã sử dụng dao là hung khí nguy hiểm để phạm tội đã phạm vào khoản 2 Điều 133 BLHS Tội phạm rất nghiêm trọng. Vì vậy VKSND huyện Lệ Thủy truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.

Phạm Văn H tháng 11/2015 bị Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắc Lắc xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp người phạm tội “tái phạm” tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS, chứng tỏ bị cáo không có thái độ ăn năn, hối cải, tự cải tạo bản thân trở thành người có ích cho xã hội vì vậy phải xử lý bị cáo với hình phạt nghiêm minh.

Tuy nhiên HĐXX xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản thiệt hại không lớn là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm g, p khoản 1, bị cáo và gia đình đã bồi hoàn số tiền 2.500.000 đồng cho chị D nhân viên CTTNHH vàng bạc, đá quý K thuộc tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS, vì vậy HĐXX sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 dây chuyền vàng và điện thoại di động hiệu Sam sung J7 Prime, xe mô tô BKS 47M5-7796 cho người bị hại, người có quyền lợi liên quan, những người này không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Số tiền 600.000 Việt Nam đồng do bị cáo phạm tội mà có cần xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Công cụ bị cáo dùng phạm tội 01 cây dao đã củ, đã qua sử dụng, các đồ vật khác gồm 01 túi xách bằng vải màu đen nhãn hiệu cặp túi Phi Long, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 áo khoác gió, 01 quần bò , 01 điện thoại di động hiệu NOKIA máy không có nắp lưng, bên trong nắp sim điện thoại có sim điện thoại số 01282707346 tất cả có đặc điểm như biên bản về việc bắt người và tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 26/4/2017 đã qua sử dụng và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu huỷ là phù hợp với điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải chịu án phí HSST theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133; điểm g khoản 1 Điều 48; các điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/4/2017.

2. Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm b khoản 1, Điều 41 Bộ luật hình sự: Xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước Số tiền 600.000 Việt Nam đồng do bị cáo phạm tội mà có.

- Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử tịch thu tiêu huỷ công cụ bị cáo dùng phạm tội 01 cây dao đã củ, đã qua sử dụng, các đồ vật khác gồm 01 túi xách bằng vải màu đen nhãn hiệu cặp túi Phi Long, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 áo khoác gió, 01 quần bò , 01 điện thoại di động hiệu NOKIA máy không có nắp lưng, bên trong nắp sim điện thoại có sim điện thoại số 01282707346 tất cả có đặc điểm như biên bản về việc bắt người và tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 26/4/2017 đã qua sử dụng và không còn giá trị sử dụng

3. Về án phí: Xử buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

Bị cáo, người bị hại trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 26 /9/2017, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi cư trú có quyền kháng cáo để xét xử phúc thẩm.


108
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 26/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội cướp tài sản

      Số hiệu:26/2017/HSST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lệ Thủy - Quảng Bình
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:26/09/2017
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về