Bản án 26/2017/HNGĐ-ST ngày 25/05/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 26/2017/HNGĐ-ST NGÀY 25/05/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 25/5/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2017/TLST - HNGĐ ngày 22/3/2017 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đìnhtheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2017/QĐST- HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đào Quang M, sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn Y, xã N, huyện T, tỉnh Hà Nam

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1983

Địa chỉ: Khu C, thị trấn T, huyện X, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 17/3/2017, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh Đào Quang M trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Q tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện X vào ngày 28/11/2011. Do gia đình anh không đồng ý cho anh kết hôn với chị Q nên anh chị đã về chung sống cùng với gia đình chị Q. Quá trình chung sống hạnh phúc được khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng trong việc phát triển kinh tế, lựa chọn nghề nghiệp cũng như do tính cách không hợp. Anh và chị Q đã sống ly thân từ tháng 8/2015 đến nay, xác định vợ chồng không quay trở về đoàn tụ với nhau được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Q.

Về con chung: Anh và chị Q có một con chung tên Đào An K, sinh ngày 19/11/2012, hiện nay đang ở với chị Q, ly hôn anh nhất trí để chị Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh sẽ góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Anh và chị Q không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai và cũng không cho ai vay tài sản gì.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày về thời gian kết hôn, nơi sinh sống sau kết hôn như anh M khai. Nhưng theo chị quá trình chung sống rất hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn. Từ tháng 8/2015 anh M về quê làm trong công ty của chú anh M tại tỉnh Hà Nam, không phải là do mâu thuẫn mà sống ly thân. Anh M vẫn liên lạc, và về thăm mẹ con chị vào dịp lễ, tết, sinh nhật; gần đây vào tết nguyên đán Đinh Dậu hai mẹ con chị còn về gia đình anh M thăm hỏi và cùng đưa con đi chơi, do vậy chị rất bất ngờ về việc anh M xin ly hôn chị. Qua hai lần hòa giải và tại phiên tòa chị đều xác định còn tình cảm với anh M nên tha thiết xin đoàn tụ cùng nuôi dạy, chăm sóc con chung, trường hợp Tòa án xử bác đơn xin ly hôn mà anh M không về chung sống với mẹ con chị thì chị sẽ  sang Hà Nam để chung sống cùng với anh.

Về con chung: Chị và anh M có một con chung đúng như anh M khai, nếu Tòa án xử cho anh M được ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, yêu cầu anh M góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị từ 2.500.000 đồng- 3.000.000 đồng/ tháng vì con chị bị bệnh nặng, thường xuyên phải đi khám.

Về tài sản và nợ chung: không có.

Kết quả xác minh tại ủy ban nhân dân thị trấn T ngày 18/4/2017 thể hiện: Sau khi kết hôn anh M và chị Q chung sống tại thị trấn T, quá trình chung sống hạnh phúc không có gì mâu thuẫn. Từ khoảng tháng 8/2015 anh M về quê đi làm, thỉnh thoảng vẫn về thăm mẹ con chị Q.  Địa phương xác định nguyên nhân anh M xin ly hôn là do từ khi về quê làm, anh bị tác động bởi gia đình, do khi kết hôn  gia đình anh M không đồng ý. Chị Q là người chịu khó lao động, hết lòng chăm lo cho gia đình. Vì vậy đề nghị Tòa án hòa giải để anh chị trở về đoàn tụ nuôi dạy con chung, vì con anh chị bị bệnh thận bẩm sinh rất cần sự chăm sóc của anh M.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương phát biểu quan điểm:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70,71, 72  của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Giữa anh M và chị Q có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử bác đơn khởi kiện của anh M về việc xin ly hôn chị Q; về quan hệ con chung và tài sản chung không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Anh M khởi kiện xin ly hôn chị Q có nơi cư trú tại thị trấn T, huyện X  nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân huyện Kiến Xương  tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Quang M và chị Nguyễn Thị Q tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện X vào ngày 28/11/2011- là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại gia đình chị Q.  Kết quả xác minh cho thấy cuộc sống của anh chị hạnh phúc, anh M cho rằng vợ chồng mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 8/2015 là do anh M phải đi làm xa, nhưng  thỉnh thoảng  anh vẫn về thăm mẹ con chị Q và giữ liên lạc với chị để hỏi thăm tình hình sức khỏe của con. Chị Q xác định còn tình cảm với anh M, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng chăm sóc cho con bị bệnh. Như vậy việc anh M đưa ra lý do tính tình không hợp, vợ chồng đã sống ly thân để xin ly hôn chị Q là không có căn cứ; anh chị đã quyết tâm vượt qua sự ngăn cản của gia đình để xây dựng hạnh phúc, chị Q sống rất có trách nhiệm với gia đình, do còn tình cảm với anh M và mong muốn được cùng anh chăm sóc cho con, nên chị đề nghị Tòa án xử bác đơn xin ly hôn để vợ chồng được đoàn tụ là chính đáng. Xét thấy, giữa anh M và chị Q chỉ có mâu thuẫn nhỏ, chưa đến mức trầm trọng nên cần xử bác đơn khởi kiện của anh M xin ly hôn chị Q như ý kiến đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định tại các Điều 19, Điều 23, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cũng như truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam.

[4]  Về quan hệ con chung và quan hệ tài sản: Do Tòa án bác đơn xin ly hôn của anh M, nên không giải quyết.

[5]  Về án phí:  Anh Đào Quang M phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 19, Điều 23, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử bác đơn khởi kiện của anh Đào Quang M xin ly hôn chị Nguyễn Thị Q.

2. Về quan hệ con chung và quan hệ tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

3. Về án phí: Anh Đào Quang M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh M đã nộp theo biên lai thu số 0000650 ngày 21/3/2017của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương thành án phí.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


144
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2017/HNGĐ-ST ngày 25/05/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:26/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Xương - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/05/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về