Bản án 258/2017/HSST ngày 16/08/2017 về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 258/2017/HSST NGÀY 16/08/2017 VỀ TỘI MUA BÁN VÀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 

Trong ngày 16/8/2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 244/2017/TLST-HS, ngày 20/6/2017 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1981

HKTT: Xóm Chùa, Khu 3, phường T, thành phố B, tỉnh B.

Trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn Dương, sinh năm 1936; mẹ đẻ: Hoàng Thị Xuân, sinh năm 1934; Gia đình bị cáo có 10 anh em, bị cáo là con thứ 10; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 68/2008/HSST ngày 22/4/2008 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2017 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thành T, sinh năm 1983

HKTT: Số 400 đường N , Khu 1, phường T, thành phố B, tỉnh B.

Chỗ ở: Số 278 Nguyễn Công H, khu H, phường K, thành phố B, tỉnh B.

Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn T, sinh năm 1952; mẹ đẻ: Trần Thị L, sinh năm 1954; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; vợ: Đào Thị Huyền T, sinh năm 1986; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010; con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2017 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 22/02/2017, tại khu vực vườn hoa trước cửa nhà nghỉ Funny ở khu H, phường K, thành phố B. Tổ công tác Công an phường K bắt quả tang Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; HKTT: Xóm C Khu 3, phường T, thành phố B có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thành T, sinh năm 1983; ở số 278 Nguyễn Công H, khu H, phường K, thành phố B.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thành T: Tại vị trí dưới đất, khu đất trống gần nhà Trung 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng, Tr khai nhận đây là ma túy T vừa mua được của T. Tổ công tác đã niêm phong trong bì thư có chữ ký của T, T và người chứng kiến.

Thu giữ của Nguyễn Văn T: 100.000 đồng gồm 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng tại vị trí dưới đất ngay chỗ T đang đứng, T khai đây là tiền do T bán ma túy cho T mà có. Thu tại túi quần bên trái của T đang mặc 03 bơm kim tiêm, 03 lọ nước cất, 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiện Masterl A225 đã cũ; 01 chiếc mô tô wave màu đỏ, BKS 99H3- 8438 đã cũ.

Ngày 22/2/2017 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã quyết định trưng cầu giám định số vật chứng thu giữ được niêm phong nói trên.

Tại bản kết luận giám định số 310/KLGĐ-PC54 ngày 22/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong gói giấy bạc màu vàng có trọng lượng: 0,2785g, loại ma túy chất Heroin.

Tại bản Cáo trạng số 145/Ctr-VKS, ngày 20/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự; Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo T, T khai nhận: Khoảng 17h ngày 22/02/2017 T gọi điện thoại cho T và bảo T mang bán cho T 100.000đ Heroine. Sau đó T, T thỏa thuận trả công cho T bằng hình thức cho T sử dụng chung ma túy với T. T và T hẹn nhau sẽ giao dịch mua bán ma túy tại khu Vườn hoa phía sau nhà T

Sau đó T điều khiển xe mô tô wave màu đỏ, BKS 99H3- 8438 ra khu vực Chợ N, phường T gặp 01 người đàn ông không quen biết mua 100.000đ được 01 gói ma túy đựng trong gói giấy bạc màu vàng, T mang đến chỗ hẹn với T. Tại khu vực Vườn hoa phía sau nhà T thuộc khu H, phường K. T gặp T đưa 100.000đ cho T, T nhận tiền và nói ma túy ở dưới đất, đồng thời, hướng mắt xuống gói ma túy để dưới đất T nhìn theo hướng T, cúi xuống nhặt 01 gói nhỏ được bọc ngoài bằng giấy bạc màu vàng, Trung biết đó là ma túy. Đúng lúc đó tổ công tác Công an phường K phát hiện và kiểm tra bắt giữ T, T thu được vật chứng như đã nêu trên.

Cũng tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố Bắc Ninh duy trì quyền công tố, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Nguyễn Thành T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn T từ 28 - 32 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của QH14 về việc áp dụng thời hiệu thi hành Bộ luật hình sự 2015; xử phạt: Nguyễn Thành T từ 14-18 tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000đ; 01 điện thoại di động Masstel A225 đã cũ. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 03 bơm kim tiêm, 03 lọ nước cất. Miễn phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn T có hành vi mua bán trái phép 0,2785g Heroin nhằm mục đích được sử dụng ma túy cùng với T; Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý“, tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Nguyễn Thành T có hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,2785g Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý“, tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho con người, cộng đồng và xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma túy, là mầm mống của nhiều căn bệnh thế kỷ cũng như các tệ nạn xã hội khác. Chính vì vậy, hành vi của các bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo T đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử ngày 22/4/2008, phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, cho đến nay không bị coi là tiền án nhưng chứng tỏ bị cáo là con người có nhân thân xấu. Bị cáo Trung chưa có tiền án, tiền sự . Trong vụ án này các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành con người lương thiện. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy T, T đều được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt các bị cáo một khoản tiền sung quĩ Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nhưng xét điều kiện hoàn cảnh các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên miễn hình phạt tiền cho các bị cáo như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát thành phố B tại phiên tòa là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa làm rõ được, nên chưa có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô Wave màu đỏ, BKS 99H3-9438 mà T mượn chị Nguyễn Thị N để đi mua bán ma túy nhưng chị N không biết việc T đi mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N chiếc xe là phù hợp qui định của pháp luật.

Về vật chứng: Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma túy và 03 bơm kim tiêm, 03 lọ nước cất cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 100.000đ là tiền mua bán ma túy và chiếc điện thoại Masstel A225 là tài sản của bị cáo T, T đã dùng để giao dịch cho việc mua bán ma túy, do vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên b bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Văn T 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ tạm giữ, tạm giam 23/02/2017. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 16/8/2017 để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 41/2017/NQ ngày 20/6/2017 của QH14 về việc áp dụng thời hiệu thi hành BLHS 2015.

Xử phạt: Nguyễn Thành T 15 (mười năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ tạm giữ, tạm giam 23/02/2017. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 16/8/2017 để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng Điều 41, Điều 99 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 tờ tiền có mệnh giá 50.000đ và 01 điện thoại di động Massel A225 đã cũ.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định số 310/KLGĐ-PC54 ngày 23/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh và 03 bơm kim tiêm, 03 lọ nước cất.

- Các bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


297
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về