Bản án 258/2017/HSPT ngày 08/09/2017 về tội cưỡng đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 32/2018/HS-PT NGÀY 12/03/2018 VỀ CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 226/2017/HSPT ngày 11 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo Trần Tứ Ph.

Do có kháng cáo của bị cáo Trần Tứ Ph đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2017/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện H.

* Bị cáo có kháng cáo:

TRẦN TỨ PH

Sinh năm 1979,

Trú tại: Ấp 3, xã TP 2, huyện H, tỉnh Đồng Tháp;

Nghề nghiệp: Mua bán;

Trình độ học vấn: 12/12;

Con ông Trần Văn D và bà Trần Thị L; có vợ và 02 con;

Tiền sự, tiền án: không;

Bị bắt tạm giam ngày 03 tháng 3 năm 2017; thay đổi biện pháp ngăn chặn: bảo lĩnh, ngày 18 tháng 4 năm 2017;

Hiện bị cáo đang tại ngoại.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Việt kiểm sát không kháng nghị.

NHẬN THẤY

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện H thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Trần Thị H1 có nợ vợ chồng Trần Tứ Ph, Lê Thị O số tiền 8.700.000đ. Khoảng 16 giờ ngày 11/11/2016, bị cáo Ph đến nhà chị H1 tại ấp 3, xã TP 2 đòi nợ, nhưng chị H1 không có tiền trả. Bị cáo Ph lấy cái ghế gỗ của chị H1 để phơi khô cầm đánh từ trên xuống trúng vùng đỉnh đầu, vùng trán bên trái và cánh tay trái chị H1. Chị H1 bỏ chạy đến nhà bà Lê Thị B trốn. Ph đuổi theo, không thấy chị H1 nên đi về. Trên đường đi, Ph ném cái ghế vào nhà anh Trần Văn T. Sau đó, Ph về nhà chị H1 đập phá các chai nước ngọt, đập tủ tivi và tủ quần áo làm bể kính. Ph tiếp tục vào nhà, kéo tủ đông, tủ lạnh và dẫn xe Dream ra phía trước nhà. Ph gọi điện thoại cho Trương Văn T1 và Trần Tứ Ph1 đến hỗ trợ mang tài sản về, nhưng T1 và Ph1 không đồng ý. Ph điều khiển xe đến nhà Nguyễn Thanh L1 thuê chở các tài sản Ph lấy trong nhà chị H1 về, L1 đồng ý. Khi Ph chuẩn bị khiêng tủ đông lên xe của L1 thì Công an xã TP 2 đến nên Ph cùng T1 và Ph1 chạy xe đi, không lấy được tài sản.

Tang vật tạm giữ: Một tủ lạnh màu xám hiệu SANYO bị móp bên vách trái tủ và không còn hoạt động; Một tủ đông lạnh màu trắng hiệu SANAKY bị móp bên trên phía bên phải, vẫn còn hoạt động, đã qua sử dụng; Một xe mô tô hiệu HONDA, màu nâu, biển kiểm soát 51F2-40xx, số khung 0237369, số máy 023736x; Một cái ghế gỗ 04 chân; Một cái dao bằng kim loại, màu đen, không cán.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 396 ngày 24/11/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận Trần Thị H1 chấn thương phần mềm vùng đỉnh đầu trái, trán trái, cánh tay trái, không để lại dấu vết thương tích, không đau. Chấn thương phần mềm do vật tày tác động gây nên hướng từ trên xuống. Tỷ lệ thương tật 00% tại thời điểm giám định.

Biên bản kết luận định giá tài sản số 14 ngày 16/11/2016 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:

- Tài sản chiếm đoạt: 01 tủ lạnh SANYO trị giá 2.000.000đ; 01 tủ đông SANAKY trị giá 5.000.000đ; 01 xe mô tô HONDA, trị giá 12.000.000đ. Tổng cộng 19.000.000đ.

- Tài sản bị hủy hoại, hư hỏng: 01 tủ ti vi bị bể kính trị giá 72.000đ; 01 tủ đựng quần áo làm bằng kính, bị bể hông bên phải, trái, kính phía trước bị bể, trị giá 288.000đ; 10 ly thủy tinh bị bể trị giá 100.000đ; 03 chai nước sirô hiệu con két của Thái bị bể, trị giá 75.000đ; 01 chai thuốc diệt côn trùng hiệu Number one bị hỏng, trị giá 20.000đ; 01kg đường cát trị giá 18.000đ; 02 hộp sữa Start bị hư hỏng, trị giá 26.000đ; 01 cái bàn nhựa hư hỏng, trị giá 50.000đ; 0,5kg táo khô bị hư hỏng, trị giá 25.000đ; 30 cây kem ăn bị hư, trị giá 60.000đ; 01 keo mủ gòn bị hư hỏng trị giá 10.000đ. Tổng cộng: 744.000đ.

Chị Trần Thị H1 đã nhận lại tủ lạnh, tủ đông, xe mô tô và yêu cầu bị cáo Ph bồi thường thêm số tiền 40.000.000đ gồm tiền hư hỏng tài sản, tiền bồi thường tổn thất tinh thần và xóa số nợ 8.700.000đ còn lại. Bị cáo Ph thống nhất và đã bồi thường xong nên chị H1 làm đơn bãi nại cho Ph.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2017/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Tứ Ph phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 135; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); khoản 3 Điều 7, điểm X khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội;

Xử phạt bị cáo Trần Tứ Ph 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt, được trừ những ngày tạm giam, từ ngày 03 tháng 3 đến ngày 18 tháng 4 năm 2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 11 tháng 7 năm 2017, bị cáo Trần Tứ Ph có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Tứ Ph đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 11/11/2016, bị cáo Ph đến nhà của chị Trần Thị H1 đòi tiền nhưng chị H1 không có tiền trả. Bị cáo Ph lấy cái ghế gỗ đánh trúng vào vùng đầu, vùng trán và cánh tay trái của chị H1, chị H1 bỏ chạy bị cáo Ph đuổi theo nhưng không gặp nên trở lại nhà của chị H1 đập phá tài sản và đem một số tài sản để trước nhà định chở các tài sản này của chị H1 về để trừ nợ thì Công an xã TP 2 đến nên không lấy được tài sản.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Ph là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại, gây mất trật tự trị an và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Ph về tội “Cưỡng đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt 01 năm tù mà án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Tuy nhiên xét thấy bị cáo khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, thành thật khai báo, đã bồi thường khắc phục hậu quả xong cho người bị hại, gia đình có công cách mạng. Bản thân bị cáo đang bị bệnh đang phải tái khám định kỳ. Hơn nữa ngày 18/8/2017, người bị hại cũng làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là đủ sức răn đe và phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Tứ Ph. Mặt khác trong phần quyết định của án sơ thẩm lại áp dụng khoản 3 Điều 7, điểm X khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội là tình tiết giảm nhẹ có lợi cho bị cáo là không đúng vì bản thân bị cáo không phải là người có công cách mạng mà người thân của bị cáo có công cách mạng đã áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự nên cần sửa lại cách tuyên trong bản án cho đúng pháp luật, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Trần Tứ Ph. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Tỉnh là không có cơ sở như phần trên đã nhận định.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Tứ Ph. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Trần Tứ Ph phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 135; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 60 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Tứ Ph 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (08/9/2017).

Giao bị cáo Trần Tứ Ph cho Ủy ban nhân dân xã TP 2, huyện H, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Trần Tứ Ph thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Bị cáo Trần Tứ Ph không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


152
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về