Bản án 257/2020/HNGĐ-ST ngày 09/12/2020 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 257/2020/HNGĐ-ST NGÀY 09/12/2020 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 09 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số 639/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2020/QĐXX- HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị NGUYỄN THỊ Y Sinh năm 1984 Địa chỉ: Ấp X, xã M, huyện C1, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh NGUYỄN PHI K Sinh năm 1981 Địa chỉ: Ấp H1, xã H2, huyện C2, tỉnh Tiền Giang.

(Chị Y, anh K có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày: Chị và anh K xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2006, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở quen biết, có đăng ký kết hôn, chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân anh K không lo làm ăn, cờ bạc, nợ nầng về nhà kiếm chuyện đánh chị, anh chị đã ly thân từ tháng 6 năm 2020 đến nay - Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 30/4/2008. Hiện cháu đang sống chung với anh chị.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có Nay chị Nguyễn Thị Y yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phi K, yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

* Tại tờ tự khai và tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Phi K trình bày: Anh và chị Y xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2006, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở quen biết, có đăng ký kết hôn, chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh làm ăn thất bại, nợ nầng, vợ chồng thường cự cãi, mâu thuẫn không có gì trầm trọng - Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 30/4/2008. Hiện cháu đang sống chung vợ chồng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có Nay anh Nguyễn Phi K không đồng ý ly hôn theo yêu cầu chị Y, vì anh còn thương vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn, bị đơn anh Nguyễn Phi K cư trú trên địa bàn huyện C2, nên căn cứ điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Cái Bè thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay, chị Y và anh K trình bày thống nhất, anh chị xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2006, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở quen biết, có đăng ký kết hôn, chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã ly thân từ tháng 6 măm 2020. Chị Y cho rằng anh K không lo làm ăn, không lo vợ con, nhậu nhẹt, cờ bạc gây nợ nầng về nhà cự cãi vợ con. Còn anh K cho rằng do làm thất bại, anh nhậu về vợ chồng cự cãi, hiện vợ chồng sống chung nhà của cha mẹ vợ, mâu thuẫn không lớn,. Tại phiên tòa chị Y cương quyết ly hôn, anh K không đồng ý. Xét thấy, chị Y và anh K từ khi ly thân đến nay các bên không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho chị Y ly hôn anh K là phù hợp theo điều 53 của Luật hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: Chị Y và anh K có 01 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 30/4/2008. Chị Y yêu cầu nuôi con chung còn cháu T cũng có văn bản trình bày ý kiến mong muốn sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

[6] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 - Căn cứ Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân : Chp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y Cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Phi K.

Về con chung : Giao cháu Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 30/4/2008 cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền tới thăm nom con chung không ai được cản trở anh K thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng : Anh Nguyễn Phi K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Y không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung : Không có.

Về án phí : Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, chị đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004204 ngày 14/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, nên không phải nộp tiếp.

Về quyền kháng cáo : Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

100
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 257/2020/HNGĐ-ST ngày 09/12/2020 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:257/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Bè - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/12/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về