Bản án 257/2017/HSPT ngày 08/09/2017 về tội cướp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 257/2017/HSPT NGÀY 08/09/2017 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN 

Ngày 08 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 228/2017/HSPT ngày 15 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo Lâm Lê Phương Đ.

Do có kháng cáo của bị cáo Lâm Lê Phương Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2017/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố C.

* Bị cáo có kháng cáo:

LÂM LÊ PHƯƠNG Đ

Tên gọi khác: H Liều;

Sinh năm 1997;

HKTT: Tổ 29, khóm M, Phường 3, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp;

Trình độ học vấn: 04/12;

Nghề nghiệp: Không;

Cha: Lâm Văn H1, mẹ: Lê Thị M1; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: không;

Tạm giữ: 10/01/2017;

Tạm giam: 16/01/2017;

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NHẬN THẤY

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ, ngày 29/12/2016 Huỳnh Văn Triệu D, sinh ngày 24/06/2001, Nguyễn Phú Tr, sinh ngày 12/7/2001, Nguyễn Mạnh Ph, sinh ngày 08/02/2000, Nguyễn Quốc Đ1, sinh ngày: 09/7/2001 và Dương Đặng Hoàng S, sinh ngày 23/9/2000 cùng ngụ xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cả 05 người đang đi chơi trong công viên Văn Miếu. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày khi đi bộ đến Quảng trường Văn Miếu thuộc đường ĐVB, khóm 5, phường 1, thành phố C thì gặp nhóm của Lâm Lê Phương Đ, sinh năm 1997, Nguyễn Quốc V sinh ngày 08/08/2002, Lê Trần V1 sinh năm 1999, cùng 02 người thanh niên khác (không biết tên và địa chỉ). Đ hỏi “bữa trước thằng nào đánh em tao”, S trả lời “thằng V em mày đòi đánh em tao trước”, V nói “thôi hòa rồi bỏ đi” nói xong thì Đ nói “chơi nó bây ơi” Đ, V1 và 02 người bạn nhặt đá ném vào nhóm D nhưng không trúng ai, 02 nhóm xông vào ẩu đả với nhau. Đ đánh nhau với Tr, V đánh với S, V1 đánh nhau với Đ1, trong lúc đánh nhau thì Tr bị ném đá trúng đầu ngất xỉu, lúc này Đ quay ngang đánh Ph, thì D can ngăn. Đ tiếp tục quay sang đánh D bằng tay và dùng gạch đá đánh D té xuống ao sen cách hiện trường 7,2 mét thì Đ mới dừng lại. Sau khi đánh nhau Đ đi đến xe mang biển số 66FA- 04192 thấy chìa khóa tra sẵn trong ổ khóa nên dùng tay mở khóa khởi động nổ máy điều khiển xe, đồng thời kêu V lên xe để chạy khỏi hiện trường. Khi V lên xe thì Đ điều khiển chở V về nhà cô sáu của Đ tên L nhà ở phường 6, thành phố C. Đ lấy giấy chứng minh nhân dân rồi tiếp tục kêu V lên xe chở V đi thành phố H2 trong đêm.

Đến khoảng 18 giờ, ngày 30/12/2016 lúc này V điện thoại cho dượng 6 tên H3 rước về nhà dượng chơi, còn Đ đi gặp Gi (tốc độ) là bạn dẫn Đ đến gặp chị Nguyễn Thị Kim Ph1 (Bé L1), sinh năm 1992 ngụ 432/26G DBT, phường 1, quận 8, thành phố H2, nhờ cầm chiếc xe trên. Chị Ph1 đem xe đến một tiệm cầm đồ “PM” do anh Nguyễn Lê Ngọc S1 làm chủ ngụ số 286, đường DBT, phường 2, quận 8, thành phố H2 cầm với giá 3.000.000 đồng Đ tiêu xài cá nhân hết.

Huỳnh Văn Triệu D sau khi bị đánh được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp khâu 03 mũi, chi phí điều trị hiện hóa đơn 655.000 đồng. Hiện nay không yêu cầu tiền thuốc và viện phí cũng như các khoản chi phí khác. Hiện nay D không yêu cầu giám định thương tật và chỉ yêu cầu xử lý hình sự đối với Đ về hành vi lấy xe.

Riêng đối với Nguyễn Phú Tr bị chấn thương đầu may 10 mũi, do nhóm Đ ném đá trúng, hiện nay sức khỏe ổn định, Tr không yêu cầu bồi thường tiền may vết thương, tiền thuốc các khoản chi phí khác, không yêu cầu giám định thương tật và cũng không yêu cầu xử lý hình sự nhóm Đ.

Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra làm việc Dương Đặng Hoàng S, Nguyễn Mạnh Ph có hành vi đánh nhau với nhóm Đ. Xét thấy chưa có thương tích cũng như chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không đề cập đến.

Đối với Nguyễn Quốc V sinh ngày 08/08/2002 khi xảy ra vụ việc còn là trẻ em, có hành vi đánh nhau đi và cùng Đ đến thành phố H2 bằng xe Đ lấy ở công viên nhưng không biết là Đ cướp xe của D trong suốt quá trình Đ chở Vĩnh về nhà cô L1 của Đ ở phường 6 lấy đồ cá nhân sau đó chở V đi thành phố H2, việc Đ đem xe đi cầm và tiêu xài hết số tiền trên V cũng hoàn toàn không biết. Xét thấy chưa có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự V với vai trò đồng phạm với Đ nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

Riêng Lê Trần V1 và 02 người bạn V1 có hành vi đánh nhau. Cơ quan điều tra đã xác minh địa phương các đối tượng này, nhưng các đối tượng không có mặt ở địa phương khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra đã thu giữ tang vật do Nguyễn Thị Kim Ph1 giao nộp nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu DAELIMIKD màu đỏ - đen, biển số 66 FA - 041.xx, và 01 giấy đăng ký xe số 0208xx.

Theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự số 06/BB.ĐGTS ngày 13/01/2017 kết luận: đối với xe mô tô nhãn hiệu DAELIMIKD màu đỏ- đen, biển số 66 FA - 041.xx có giá trị là: 6.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2017/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lâm Lê Phương Đ phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm p, khoản 1, khoản 2 Điều 46 và điểm h, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Lê Phương Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 10/01/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 07 tháng 7 năm 2017, bị cáo Lâm Lê Phương Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lâm Lê Phương Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 29/12/2016 nhóm của D, Tr, Ph, Đ1 và S đi chơi trong công viên Văn Miếu thì gặp nhóm của bị cáo Đ, V, V1 và 02 người thanh niên khác không biết tên. Đ hỏi “bữa trước thằng nào đánh em tao”, S trả lời “thằng V em mày đòi đánh em tao trước”, V nói “thôi hòa rồi bỏ đi” nói xong thì Đ nói “chơi nó bây ơi” Đ, V1 và 02 người bạn nhặt đá ném vào nhóm D nhưng không trúng ai, 02 nhóm xông vào ẩu đả với nhau. Đ đánh nhau với Tr, V đánh với S, V1 đánh nhau với Đ1, trong lúc đánh nhau thì Tr bị ném đá trúng đầu ngất xỉu, lúc này Đ quay ngang đánh Ph, thì D can ngăn. Đ tiếp tục quay sang đánh D bằng tay và dùng gạch đá đánh D té xuống ao sen thì Đ dừng lại và đi đến xe mang biển số 66FA- 041xx thấy chìa khóa tra sẵn trong ổ khóa nên dùng tay mở khóa khởi động nổ máy điều khiển xe, đồng thời kêu V lên xe để chạy khỏi hiện trường. Sau đó bị cáo lên thành phố H2 và cầm xe với số tiền 3.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu, gây mất trật tự trị an và hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo trong độ tuổi lao động, có sức khỏe tốt nhưng lại không chăm chỉ lao động để có thu nhập hợp pháp chỉ vì muốn có tiền nhanh chóng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo dùng thủ đoạn nguy hiểm là đánh bị hại té xuống ao sen và chiếm đoạt tài sản của bị hại và tẩu thoát; giá trị tài sản bị chiếm đoạt qua định giá là 6.000.000 đồng. Rõ ràng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng phòng ngừa chung trong toàn xã hội

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đ về tội “Cướp tài sản” là có căn cứ và đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Mức hình phạt 04 năm mà án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, đã xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình được tình tiết nào mới ngoài những tình tiết mà cấp sơ thẩm đã áp dụng. Do đó không có căn cứ để xem xét cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lâm Lê Phương Đ. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Tỉnh là có cơ sở nên chấp nhận.

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lâm Lê Phương Đ. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Lâm Lê Phương Đ phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và điểm h khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Lê Phương Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2017.

Về án phí: Bị cáo Lâm Lê Phương Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


96
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 257/2017/HSPT ngày 08/09/2017 về tội cướp tài sản

      Số hiệu:257/2017/HSPT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Tháp
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:08/09/2017
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về