Bản án 256/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 256/2019/HS-ST NGÀY 25/11/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 229/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Trần Khánh P, sinh năm 1982. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ĐKHKTT: Ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị H; có vợ là Phạm Thị Ngọc H và 01 con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 04/3/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 56/2009/HSST. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/01/2019 đến ngày 30/01/2019 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi noi cư trú cho đến nay; Có mặt.

2. Họ và tên: Đào Văn Q, sinh năm 1982. Tại: Nghệ An. Nơi ĐKHKTT: Xóm S, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Tạm trú: Khu phố X, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đào Văn B và bà Võ Thị M; có vợ là Bà Võ Thị M1. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/01/2019 đến ngày 30/01/2019 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; Có mặt.

3. Họ và tên: Đào Văn V, sinh năm 1982. Tại: Hải Dương. Noi ĐKHKTT: Thôn X, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Tạm trú: tổ XY, khu Y, phường P1, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đào Xuân A và bà Phạm Thị T; có vợ là Bà Trần Thị T và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/01/2019 đến ngày 30/01/2019 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; Có mặt.

4. Họ và tên: Phạm Đình T, sinh năm 1974. Tại: Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT: Tổ XY, phường X, quận T, Thành phố Đà Nẵng. Tạm trú: khu phố X, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm C (đã chết) và bà Lê Thị H (đã chết); có vợ là Bà Lê Thị Hồng P và có 02 con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/01/2019 đến ngày 30/01/2019 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Hoàng Ngọc Hảo T1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Xã P, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Lê Văn L. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 40 ngày 21/01/2019, Đội Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một phối hợp cùng Công an phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra bắt quả tang tại quán nước “không tên” địa chỉ tại khu phố X, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương do Hồ Hoàng Ngọc Hảo T1 làm chủ có 04 con bạc đang tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền gồm: Nguyễn Trần Khánh P, Phạm Đình T, Đào Văn Q, Đào Văn V. Thu giữ: tại bàn đánh bạc 01 (một) bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng), 01 (một) bộ bài tây 52 lá (chưa qua sử dụng); số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm ngàn đồng), 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1034 màu xanh, loại 02 sim, 01 xe mô tô biển số 53YM-01XY, kiểu dáng Dream, màu nâu của Nguyễn Trần Khánh P; số tiền 7.900.000 đồng (Bảy triệu chín trăm ngàn đồng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng Gold của Đào Văn V; số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu đen (bị bể màn hình), 01 điện thoại di động Nokia 1034, màu đen của Phạm Đình T; số tiền 9.200.000 đồng (Chín triệu hai trăm ngàn đồng) của Đào Văn Q.

Quá trình điều tra xác định, cụ thể như sau:

Nguyễn Trần Khánh P, Đào Văn V, Phạm Đình T, Đào Văn Q là bạn quen biết nhau và cùng làm nghề tài xế. Khoảng 08 giờ 00 ngày 21/01/2019, Nguyễn Trần Khánh P, Đào Văn V, Phạm Đình T, Đào Văn Q đến quán nước “không tên” của Hồ Hoàng Ngọc Hảo T1, địa chỉ tại số 01 đường Huỳnh Văn Lũy, khu phố 03, phường H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để ngồi uống nước. Khi vào quán thì mỗi người kêu một ly cà phê để uống, ngồi uống nước đến khoảng 10 giờ 30 cùng ngày thì P rủ Q, V, T cùng chơi đánh bài “phỏm” thắng thua bằng tiền thì tất cả cùng đồng ý tham gia. Cùng lúc, P điều khiển xe mô tô biển số 53YM-01XY của P đi đến tiệm tạp hóa gần đó mua 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá mang về quán nước của chị T1. Tiếp đó P, V, Q, T cùng nhau ngồi tại bàn trong quán nước để chơi đánh bạc, tất cả thống nhất chơi bài phỏm thắng thua bằng tiền, mỗi ván ai thắng nhất sẽ được thắng của người thắng nhì số tiền 50.000 đồng, thắng của người thắng ba số tiền 100.000 đồng và thắng người thắng nhất số tiền 150.000 đồng. Khi chơi đánh bạc thì P, V, Q, T để tiền trong túi quần, mỗi ván thắng thua thì mới lấy tiền ra chung trực tiếp cho nhau. Khi tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền, P sử dụng số tiền 1.500.000 đồng, V sử dụng số tiền 9.000.000 đồng, T sử dụng số tiền 2.500.000 đồng, Q sử dụng số tiền 7.700.000 đồng để tham gia đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền.

Hình thức chơi đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền như sau: Một nhóm bài được gọi là Phỏm nếu chúng gồm có: 3 hay 4 lá bài với cùng một số bài hoặc 3 hay nhiều hơn lá bài liên tục với cùng một nước bài. Khi bắt đầu mỗi ván thì bộ bài được chia thành 04 tụ mỗi tụ 9 lá, người đánh đầu tiên sẽ được 10 lá bài, số bài còn lại bỏ giữa bàn. Ván bài chơi được bắt đầu với người đi đầu vứt đi 1 lá bài rác trên tay của mình. Người kế tiếp có thể ăn lá bài đó nếu trên tay có 2 lá bài (hay nhiều hơn), và những lá bài này cùng với lá bài rác lập thành một phỏm, nếu người kế tiếp ăn lá bài vừa đánh ra thì sẽ thắng 10.000 đồng của người đánh ra. Nếu người kế tiếp không thể ăn hay không muốn ăn lá bài rác người tay trên đánh xuống, người đó có thể bốc một lá bài từ trụ giữa bàn. Trong cả hai trường hợp, ăn bài hay bốc bài, trên tay người đang chơi có 10 lá bài, và người này phải đánh một lá bài xuống, và vòng chơi tiếp tục với người tiếp nữa. Từ vòng thứ 3 trở đi của mỗi ván nếu ai ăn lá bài của người đánh trước thì sẽ thắng 50.000 đồng của người đó. Ván bài kết thúc khi có một người “ù” (tức là được 03 phỏm) và người ù sẽ thắng của mỗi người 250.000 đồng. Nếu không có ai ù, ván bài sẽ kết thúc khi rút hết bài từ tụ giữa bàn. Và khi đó người chơi sẽ đếm điểm của các con bài còn lại trên tay của mình, ai thấp điểm nhất sẽ thắng và cứ như thế sẽ biết được người tới hai, ba và chót, (quy tắc đếm điểm là đếm số điểm của các con bài rác còn lại trên tay tương ứng với số của lá bài, còn J Q K tương ứng là 11, 12 và 13). Và như vậy, người tới nhất sẽ thắng người tới nhì 50.000 đồng, thắng của người tới ba 100.000 đồng và thắng người tới nhất 150.000 đồng. Nếu khi kết thúc mà ai không có “phỏm” thì bị cháy và phải chung cho người tới nhất 200.000 đồng. Trong lúc P, V, Q, T đang chơi đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Đội Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một phối hợp cùng Công an phường H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra bắt quả tang.

Khi bị bắt quả tang, Nguyễn Trần Khánh P sử dụng số tiền 1.500.000 đồng mang theo trong người để tham gia đánh bạc. Khi bị bắt thì P thua số tiền 400.000 đồng còn lại số tiền 1.100.000 đồng bị thu giữ. Đào Văn V sử dụng số tiền 9.000.000 đồng mang theo trong người để tham gia đánh bạc. Khi bị bắt thì V Ta số tiền 1.100.000 đồng còn lại số tiền 7.900.000 đồng bị thu giữ. Phạm Đình T sử dụng số tiền 2.500.000 đồng mang theo trong người để tham gia đánh bạc. Khi bị bắt thì T không thắng cũng không thua, bị thu giữ số tiền 2.500.000 đồng. Đào Văn Q sử dụng số tiền 7.700.000 đồng mang theo trong người để tham gia đánh bạc. Khi bị bắt thì Q thắng số tiền 1.500.000 đồng, bị thu giữ số tiền 9.200.000 đồng.

Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 20.700.000 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm nghìn đồng).

Đối với Hồ Hoàng Ngọc Hảo T1 là chủ quán nước “không tên” là nơi Nguyễn Trần Khánh P, Đào Văn V, Phạm Đình T, Đào Văn Q ngồi đánh bạc. Quá trình điều tra xác định: Khi Nguyễn Trần Khánh P, Đào Văn V, Phạm Đình T, Đào Văn Q ngồi đánh bài phỏm tại quá của T1, T1 có nhìn thấy P, V, T, Q ngồi đánh bài nhưng không biết P, V, T, Q đánh bài thắng thua bằng tiền. Quá trình P, V, T, Q đánh bài cũng không mua nước uống hay mua đồ gì khác của T1. Khi nhìn thấy P, V, T, Q đánh bài T1 đã ra nhắc nhở và không cho P, V, T, Q đánh bài tại quán của của chị T1 nữa. Sau đó chị T1 đi nấu cơm, đi giao ga cho khách rồi đi đón con. Khi T1 vừa đi đón con về đến quán thì cùng lúc lực lượng Công an vào quán bắt quả tang P, V, T, Q đang đánh bài thắng thua bằng tiền. Do vậy, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hồ Hoàng Ngọc Hảo T1 về hành vi Đánh bạc hoặc Tổ chức đánh bạc. Ngày 02/5/2019, Chủ tịch UBND thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 149/QĐ-XPHC đối với bà T1 về hành vi “Dùng địa điểm (quán nước) của mình để chứa bạc” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP.

Đối với 01 (một) bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng), 01 (một) bộ bài tây 52 lá (chưa qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định, đây là công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Đối với số tiền 20.700.000 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm nghìn đồng) thu trên người các con bạc. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã chuyển Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Dầu Một.

Đối với 01 xe mô tô biển số 53YM-01XY, kiểu dáng Dream, màu nâu có số khung: CB044VN-000XYZ, số máy: S139FMB-200XYZ thu giữ của Nguyễn Trần Khánh P. Quá trình điều tra xác định: Xe trên do ông Trần Văn Đ, sinh năm 1944, ngụ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Ông Đ đã bán xe trên cho người nam (không rõ nhân thân lai lịch) vào cuối năm 2014, khi mua bán không làm giấy tờ sang tên theo quy định. Nguyễn Trần Khánh P khai nhận đã mua xe trên của một người nam không rõ nhân thân, lai lịch vào năm 2015, khi mua bán không làm giấy tờ sang tên theo quy định, P đã sử dụng xe mô tô trên để đi mua bài về phục vụ cho việc đánh bài thắng thua bằng tiền. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã chuyển Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Dầu Một.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1034 màu xanh, loại 02 sim thu giữ của Nguyễn Trần Khánh P. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản của P, không liên quan đến quá trình phạm tội của P. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả cho Nguyễn Trần Khánh P.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng Gold thu giữ của Đào Văn V. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản của V, không liên quan đến quá trình phạm tội của V. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả cho Đào Văn V.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu đen (bị bể màn hình), 01 điện thoại di động Nokia 1034, màu đen thu giữ của Phạm Đình T. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản của T, không liên quan đến quá trình phạm tội của T. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả cho Phạm Đình T.

Cáo trạng số 226/CT-VKS-HS ngày 21/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Khánh P từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Văn Q và bị cáo Đào Văn V từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng)

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đình T từ 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 20.700.000đ (Hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc; 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Vecstar, kiểu dáng Dream màu nâu, gắn biển số 53YM-01XY, số khung: VVNDCB044VN000XYZ, số máy: VVNZS139FMB-200XYZ (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động). Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 (một) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, tất cả các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, những chứng cứ đã được thu thập đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 21/01/2019, tại quán nước “không tên” địa chỉ số 01 đường Huỳnh Văn Lũy, khu 3, phường H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Trần Khánh P, Đào Văn V, Phạm Đình T, Đào Văn Q có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi bài phỏm thắng Ta bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 20.700.000đ (hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng). Do vậy, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương nơi gây án. Các bị cáo nhận thức được Nhà nước ta nghiêm cấm việc đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức nhưng vì động cơ tư lợi mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà mỗi bị cáo đã thực hiện. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn trong đó P là kẻ rủ rê các bị cáo khác đánh bạc thắng Ta bằng tiền nên mức hình phạt của P phải cao hơn các bị cáo còn lại.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo Đào Văn V, Phạm Đình T, Đào Văn Q đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo P có cha là thương binh 2/4. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[6] Về biện pháp tư pháp:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 20.700.000đ (Hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc; 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Vecstar, kiểu dáng Dream màu nâu, gắn biển số 53YM-01XY, số khung: VVNDCB044VN000XYZ, số máy: VVNZS139FMB-200XYZ (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 (một) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.

[7] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trần Khánh P, Đào Văn Q, Đào Văn V, Phạm Đình T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Khánh P 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn Q 30.000.000 đông (ba mươi triệu đồng).

2.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Văn V 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

2.4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 20.700.000đ (Hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng); 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Vecstar, kiểu dáng Dream màu nâu, gắn biển số 53YM-01XY, số khung: VVNDCB044VN000XYZ, số máy: WNZS139FMB-200XYZ (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 (một) bộ bài tây 52 lá chua qua sử dụng.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 013.20 ngày 22/10/2019 giữa Công an thành phố Thủ Dầu Một - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một; Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 04/3/2019).

4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.


24
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về