Bản án 252/2017/HSST ngày 14/08/2017 về tội môi giới mại dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 252/2017/HSST NGÀY 14/08/2017 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 14-8-2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 254/2017/HSST, ngày 28-6-2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2017/HSST-QĐ ngày 01-8-2017, đối với bị cáo: Phạm Thị  A, sinh năm 1990; HKTT: Thôn A, xã Kh, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Trú tại: Thôn G, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: lớp 9/12; Họ tên bố: Không xác định; Con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; Chồng, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01-4-2017 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bản cáo trạng số 153 /CTr-VKS ngày 27/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố Phạm Thị A về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, khoảng 21h45’ ngày 31/3/2017, tại nhà nghỉ TM ở khu C, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh do chị TTM, sinh năm 1971, HKTT: Khu C, phường V, thành phố Bắc Ninhlàm chủ, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố Bắc Ninh phối hợp với Công an phường V, thành phố Bắc Ninh bắt quả tang Hoàng Thị B, sinh năm 1991, HKTT: Thôn 2 xã G, huyệnT, thành phố Hải Phòng, chỗ ở: Thôn G, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh đang bán dâm cho Hoàng TA, sinh năm 1994 HKTT: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh trong phòng 202; Phạm Thị A sinh năm 1990, HKTT: Thôn A, xã Kh, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: Thôn G, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh đang bán dâm cho Nguyễn Văn B sinh năm 1990 ở cùng thôn với  TAtrong phòng 203. Vật chứng thu giữ:

- Tại phòng 202: 02 chiếc bao cao su nhãn hiệu “DOCTOR” ( 01 chiếc đã qua sử dụng, 01 chiếc chưa sử dụng);

- Tại phòng 203: 02 chiếc bao cao su nhãn hiệu “CONDOM” (đã qua sử dụng); thu của A 1.500.000đ là tiền B đưa cho A để trả tiền mua dâm và môi giới mại dâm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J5; thu của  B 01 điện thoại di động Iphone 4 màu đen, màn hình đã bị vỡ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh và tại phiờn tũa ngày hụm nay bị cáo Phạm Thị A đó khai nhận:

Khoảng 21h30’ ngày 31/3/2017, Phạm Thị A đang ở quán cà phê M ở làng G, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh thì có người thanh niên tự xưng là  B cú gọi điện thoại bảo A gọi cho B 2 người con gái  đến nhà nghỉ TMở khu C, phường V, thành phố Bắc Ninh để  B và bạn B mua dõm, A đó đồng ý. A hỏi bạn là Hoàng Thị B (là người cùng làm với  A) “có đi khách không?”, Hoàng Thị B bảo “Có”. Sau đó  A và Hoàng Thị B đi xe taxi đến nhà nghỉ TM thì gặp Nguyễn Văn B, Hoàng TA trước cửa nhà nghỉ, Nguyễn Văn B và  A thỏa thuận với nhau tiền một lần mua dâm là 300.000đ/lần; B đưa cho A 1.000.000đ (trong đó 600.000đ là tiền B và TA mua dâm A và Hoàng Thị B còn 400.000đ B cho A), B lại đưa tiếp 500.000đ trả công môi giới cho A. Sau đó, Hoàng Thị B và Hoàng TA lên phòng 202 để mua bán dâm còn Nguyễn Văn B và A lên phòng 203 để mua bán dâm. Trong lúc Nguyễn Văn B và A, Hoàng TA và Hoàng Thị B thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Đại diện Viện kiểm sát thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai nhân chứng, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, có đủ cơ sở để xác định Phạm Thị A phạm tội “Môi giới mại dâm”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng  khoản 1 Điều 255; điểm h, điểm p khoản 1; Điều 46; Điều 33, Điều 41 của Bộ luật hình sự; Điều 76, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội, tuyên bố bị cáo Phạm Thị A phạm tội “Môi giới mại dâm”, và tuyên phạt bị cáo Phạm Thị A từ 08 đến 10 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1500.000đ, tịch thu tiêu huỷ 04 vỏ bao cao su và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4, trả lại cho bị cáo  A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J5.

Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hỡnh phạt cho bị cáo.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đó được thẩm tra tại phiờn tũa, cụ thể: Phạm Thị A khai nhận phù hợp với lời khai của người làm chứng là anh Nguyễn Văn Hải, chị Hoàng Thị Bỡnh thỡ Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 31-3-2017, Phạm Thị A có hành vi dẫn dắt cho Hoàng Thị Bỡnh, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn 2, xó Gia Minh, huyện Thủy Nguyờn, thành phố Hải Phũng bỏn dõm cho Hoàng TA, sinh năm 1994 trú tại: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh để trục lợi.

Hành vi của bị cáo Phạm Thị A đó cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 điều 255 Bộ luật hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đó truy tố bị cáo là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của con người và làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội ; Tệ nạn mại dâm cũng là nguyên nhân làm lây lan các bệnh xã hội đặc biệt là bệnh HIV/AIDS. Bị cáo là người đó trưởng thành và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rừ tác hại và sự nguy hiểm về hành vi của bản thân, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà mình đã thực hiện, cần phải đưa ra xét xử kịp thời và có một mức hình phạt tương xứng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo thành thật khai báo, đó tỏ ra ăn năn hối hận, đây là tỡnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Mặt khác do có sự thay đổi về đường lối xử lý đối với tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định mức hình phạt từ 06 tháng đến 05 năm, nhưng tại khoản 1 điều 238 Bộ luật hình sự 2015 quy định mức hình phạt từ 06 tháng  đến 03 năm; Mặc dù Bộ luật hình sự 2015 chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với tình tiết phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm h khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án:

- 04 vỏ bao cao su cần tịch thu tiêu huỷ;

- Số tiền 1.500.000đ là tiền liên quan trực tiếp tới tội phạm mà bị cáo đó thực hiện, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J5 của bị cáo, bị cáo sử dụng để liên lạc với mọi người nên cần trả lại cho bị cáo.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màn hình bị vỡ là của anh Nguyễn Văn B, anh  B không yêu cầu trả lại cho anh  B, xét thấy chiếc điện thoại không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi mua bán dâm của Phạm Thị A, Hoàng Thị B, Nguyễn Văn B và Hoàng TA, Công an thành phố Bắc Ninh đã Quyết định xử phạt hành chính về hành vi mua bán dâm của các đối tượng này là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Đối với chị TTM  là chủ nhà nghỉ TM là người đó cho các đối tượng thuê phòng nghỉ, chị M đã phát hiện các đối tượng có biểu hiện hoạt động mại dâm, chị M đã thông báo cho Cơ quan Công an, nên không xem xét xử lý đối với chị M là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của Điều 99 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/QH14 ngày 20/6/2017; Tuyên bố bị cáo Phạm Thị A phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt: Phạm Thị A 08 (Tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 01-4-2017.

Tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 14-8-2017.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu 04 vỏ bao cao su (Trong đó có 02 chiếc có nhãn hiệu “DOCTOR”, 01 chiếc đã qua sử dụng, 01 chiếc chưa sử dụng; 02 chiếc có nhãn hiệu “CONDOM” đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màn hình bị vỡ.

- Tịch thu Sung quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000đ

- Trả lại cho bị cáo Phạm Thị A 01 điện thoại di động nhón hiệu Sam Sung J5. (Theo biên bản giao nhận tài sản vật chứng ngày 27 tháng 6 năm 2017)

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kêt từ ngày nhận được bản sao bản án.


134
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về