Bản án 25/2018//HS-ST ngày 03/05/2018 về tội buôn lậu

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 25/2018//HS-ST NGÀY 03/05/2018 VỀ TỘI BUÔN LẬU

Ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử  sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm  2018 đối với bị cáo:

Hoàng Văn A sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Hoàng Văn I và bà: Nguyễn Thị N; vợ, con: Có vợ và 02 con; tiền án: Có 01 tiền án, ngày 19/5/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng và phạt tiền bổ sung 7.000.000đ, về tội Đánh bạc; tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính 01 lần, (cụ thể: Ngày 04/7/2015 bị Công an Phường Gia Thụy, Quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 2.000.000đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã hết thời hạn nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị tạm giữ, tạm giam tại Công an huyện Chi Lăng từ ngày 19/9/2017 đến 20/10/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ 00 phút ngày 19/9/2017, tại đường liên thôn H - B, thị trấn E, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Công an huyện Chi Lăng phối hợp với Tổ tuần tra Cảnh sát giao thông Tùng Diễn – Phòng PC67 Công an tỉnh Lạng Sơn kiểm tra xe môtô biển kiểm soát 12F5-5926 (biển kiểm soát giả) do Hoàng Văn A điều khiển. Phát hiện thu giữ 36 khối hộp vỏ giấy đa màu sắc, kích thước 14 x 14 x 15cm, bên trong mỗi khối có 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau; 02 khối hộp vỏ giấy đa màu sắc, kích thước 17,5 x 17, 5 x 15cm, bên trong mỗi khối có 49 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau; 01 khối hình trụ kích thước 25 x 6cm, bên trong chứa 01 tràng (dây) có chiều dài 0,5m được liên kết với nhau bởi các vật hình trụ vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi liên kết với nhau. Tổng trọng lượng 03 loại tang vật trên là 58kg, A khai nhận đều là pháo do A mua từ Trung Quốc mang về Việt Nam tiêu thụ. Ngoài ra còn thu giữ thêm đồ vật tài sản khác gồm: 02 bao tải dứa màu xanh; 01 thùng bìa cát tông; 01 tấm vải bạt màu xanh đỏ; 02 túi nilon màu đen; 01 chiếc áo mưa màu xanh; 01 điện thoại hiệu Masstel-N536 màu vàng trắng đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng; 01 xe môtô biển kiểm soát 12F5-5926 (biển kiểm soát giả) có số khung S9408Y018377, số máy 1S94018377 xe cũ đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 5273/C54-P2 ngày 14/11/2017 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đã kết luận:

- Khối hộp vỏ ngoài bọc giấy màu, bên trong gồm 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau và khối hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu, bên trong gồm 49 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo hoa, loại pháo hoa này khi đốt có phát ra tiếng nổ và ánh sáng màu.

- Các vật hình trụ vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi, được liên kết với nhau thành 01 tràng là pháo nổ.

Tại Công văn số 04/C54-P2 ngày 08/01/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đã giải thích: Pháo hoa trong kết luận giám định trên đều có chứa thuốc pháo.

Tại Cơ quan điều tra Hoàng Văn A khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 17/9/2017 A điều khiển xe môtô biển kiểm soát 12F5-5926 đi từ nhà đến thị trấn G, huyện M, tỉnh Lạng Sơn và thuê 01 phòng trọ tại đó. Đến 21 giờ cùng ngày A điều khiển xe môtô lên khu vực X, xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và đi đến đường mòn giáp biên giới Trung Quốc – Việt Nam, A giấu xe môtô vào bụi cây ven đường và đi bộ sang chợ K, Trung Quốc. Tại đây A mua với một người phụ nữ (không quen biết) 30 hộp pháo, loại 36 quả/hộp với số tiền 2.100.000đ (tiền VNĐ). Sau khi mua được pháo A xếp vào thùng bìa cát tông và lấy 02 túi nilon màu đen bọc bên ngoài rồi cho vào chiếc bao tải dứa màu xanh rồi vác pháo đi bộ đến chỗ giấu xe môtô và dùng xe môtô chở về cất giấu tại phòng trọ ở thị trấn G. Khoảng 20 giờ ngày 18/9/2017 A tiếp tục sang chợ K, Trung Quốc và mua thêm 06 hộp pháo loại 36 quả/hộp, 02 hộp pháo loại 49 quả/hộp và 01 dây pháo với tổng số tiền 700.000đ (tiền VNĐ), sau đó A xếp pháo vào thùng bìa cát tông rồi cho vào chiếc bao tải dứa màu xanh và vận chuyển về phòng trọ. Đến khoảng 04 giờ ngày 19/9/2017 A dùng xe môtô biển kiểm soát 12F5-5926 chở toàn bộ số pháo đã mua được từ thị trấn G theo quốc lộ 1A để mang về nhà với mục đích bán lại cho một người cùng thôn có tên là J. Khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày khi đi đến địa phận thôn Z, xã S, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì gặp Cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe, A không chấp hành mà điều khiển xe bỏ chạy và rẽ vào khu vực đường liên thôn H - B thuộc thị trấn E, huyện C thì bị bắt giữ. Qua đấu tranh khai thác A còn khai nhận trước đó vào ngày 15/9/2017 A sang Trung Quốc mua 18 hộp pháo loại 36 quả/hộp vận chuyển trót lọt về Việt Nam và bán lại cho Đặng Tiến Q, trú tại thôn U, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Đối với người đàn ông tên J. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh ở thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang có người tên Thân Quang J, nhưng do J vắng mặt tại địa phương, nên chưa làm rõ được hành vi và mức độ liên quan, sẽ tiến hành điều tra xử lý sau.

Đối với Đặng Tiến Q là người A khai nhận được mua 18 hộp pháo loại 36 quả/ hộp vào ngày 15/9/2017 với A. Tuy nhiên Q không thừa nhận, mặt khác vật chứng vụ án không thu giữ được nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với người phụ nữ bán pháo cho A ở chợ K, Trung Quốc. Do không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không thể điều tra, xác minh.

Đối với xe môtô biển kiểm soát 12F5-5926 có số khung S9408Y018377, số máy 1S94018377 là của Hoàng Văn A mua lại xe cũ, sau đó A gắn biển kiểm soát giả 12F5-5926 để đi vận chuyển pháo. Qua xác minh số khung, số máy chiếc xe trên có biển kiểm soát 36N6-7239, giấy chứng nhận đăng ký mang tên Nguyễn Huy N, sinh năm 1984, trú tại số nhà X, Y, thành phố L, tỉnh Bắc Ninh. Chiếc xe này anh N bị mất trộm vào khoảng tháng 8 năm 2009 tại Thành phố L. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng tách ra để chuyển vật chứng và tài liệu liên quan đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 04 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn A về tội “Buôn lậu” theo điểm đ khoản 2 Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên trình bày bản luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn A theo tội danh và điều luật như trên. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 153; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn A phạm tội: “Buôn lậu”. Về hinh phạt: xử phạt bị cáo Hoàng Văn A từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự 1999; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen của Hoàng Văn A.

Bị cáo Hoàng Văn A không có ý kiến tranh luận, bị cáo thừa nhận việc xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chi Lăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn A khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Chi Lăng lập ngày 19/9/2017, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ. Các chứng cứ đó phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, hành vi, có đủ cơ sở để kết luận:

[3] Đêm 17 và 18/9/2017 Hoàng Văn A đã có hành vi vượt biên trái phép sang chợ K, Trung Quốc mua 58 kg pháo nổ mang về nhà ở Bắc Giang với mục đích bán kiếm lời. Đến khoảng 06 giờ 00 phút ngày 19/9/2017 khi A đang trên đường vận chuyển pháo đến thị trấn E, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, bắt giữ cả người cùng tang vật.

[4] Đối với người đàn ông tên Thân Văn J. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được hành vi và mức độ liên quan nên sẽ tiến hành điều tra xử lý sau. Đối với Đặng Tiến Q là người Hoàng Văn A khai nhận được mua 18 hộp pháo loại 36 quả/ hộp vào ngày 15/9/2017 với A. Tuy nhiên Q không thừa nhận, mặt khác vật chứng vụ án không thu giữ được nên không có cơ sở để xử lý. Đối với người phụ nữ bán pháo cho A ở chợ K, Trung Quốc. Do không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không thể điều tra, xác minh. Các trường hợp nêu trên Cơ quan điều tra đã xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[5] Đối với xe môtô biển kiểm soát 12F5-5926 có số khung S9408Y018377, số máy 1S94018377 là của Hoàng Văn A mua lại xe cũ, sau đó A gắn biển kiểm soát giả 12F5-5926 để đi vận chuyển pháo. Qua xác minh số khung, số máy chiếc xe trên có biển kiểm soát 36N6-7239, giấy chứng nhận đăng ký mang tên Nguyễn Huy N, sinh năm 1984, trú tại số nhà X, Y, thành phố L, tỉnh Bắc Ninh. Chiếc xe này anh N bị mất trộm vào khoảng tháng 8 năm 2009 tại Thành phố L. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng tách ra để chuyển vật chứng và tài liệu liên quan đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh điều tra, xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.

[6] Bị cáo Hoàng Văn A là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy có đủ khả năng để nhận thức việc buôn lậu hàng cấm là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích có tiền để tiêu sài cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi buôn lậu pháo nổ với số lượng rất lớn. Bị cáo đã vi phạm các quy định như: Chỉ thị 406/CT-TTg ngày 08/8/1994 của Thủ tướng chính phủ về việc cấm vận chuyển, buôn bán và đốt pháo. Nghị quyết số 05/2017/CP-CP ngày 11/10/1997 của Chính phủ về việc cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và đốt các loại pháo. Nghị định số 36/2009/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý, sử dụng pháo. Luật Sửa đổi, bổ sung Luật đầu tư năm 2014 (Điều 6 và phụ lục 4). Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 (quy định tại điểm b tiểu mục 1 và tiểu mục 2.4 mục III). Vậy đã có đủ các căn cứ để kết luận bị cáo Hoàng Văn A phạm tội “Buôn Lậu”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[7]. Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn A là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về kinh tế. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật: Cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và đốt các loại pháo, bị cáo biết nhưng vẫn vi phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng truy tố bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận.

[8] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hoàng Văn A.

[9] Về tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo Hoàng Văn A đã dùng thủ đoạn lắp biển số giả vào xe mô tô vận chuyển pháo nhằm gây khó khăn trong việc phát hiện và ngăn chăn của Cơ quan chức năng, bị cáo vì ham lợi mà phạm tội; về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã có tiền án, không có tiền sự nhưng bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính 01 lần; về tình tiết tăng nặng: Có 01 tình tiết là tái phạm được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, vì bị cáo đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích, về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà Hoàng Văn A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo, tu dưỡng, sớm trở thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật.

[10] Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thấy rằng bị cáo Hoàng Văn A có 01 tình tiết giảm nhẹ nhưng có 01 tình tiết tăng nặng, nhân thân xấu, hành vi buôn lậu pháo với khối lượng lên đến 58 kg nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm, răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời tăng cường giáo dục và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

[11] Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo vì không có khả năng thi hành, bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, sống phụ thuộc, không có tài sản riêng.

[12] Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen của Hoàng Văn A vì đã hỏng không còn giá trị sử dụng. Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng đã tiến hành tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ thu giữ của bị cáo theo quy định, đã xử lý xe mô tô và các vật chứng khác là có căn cứ và đúng pháp luật nên không xem xét.

[13] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều  135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 153, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, các Điều 33, 45 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn A phạm tội “Buôn lậu”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn A 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 32 ngày (từ ngày 19/9/2017 đến ngày 20/10/2017).

Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, đã qua sử dụng. (Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng, theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Chi Lăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng ngày 09/4/2018).

Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìnđồng) tiền án phí  hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. 

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

569
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2018//HS-ST ngày 03/05/2018 về tội buôn lậu

Số hiệu:25/2018//HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chi Lăng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về