Bản án 25/2017/HNGĐ-ST ngày 01/08/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 25/2017/HNGĐ-ST NGÀY 01/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 01 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 69/2016/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2017; Về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2017/QĐST-HN> ngày 12 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1966; Hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã V, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Địa chỉ cư trú: Số nhà 966, đường L, thôn A, xã V, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1962; Hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã V, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Địa chỉ cư trú: Số nhà 533, đường L, tổ 28, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai tại phiên tòa; nguyên đơn chị Trịnh Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Trường G tự tìm hiểu thời gian 02 năm sau đó tổ chức cưới vào ngày 02/9/1987.

Do học vấn thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế nên khi cưới anh, chị không đăng ký kết hôn và kể từ sau khi cưới đến nay anh, chị cũng không đăng ký kết hôn tại bất kỳ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào. Quá trình chung sống tình cảm anh, chị hạnh phúc. Đến tháng 12/2014 anh, chị phát sinh mâu thuẫn nguyên do anh G có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị khuyên ngăn nhưng anh không nghe, cũng từ đó anh, chị đã không tìm được tiếng nói chung nên sống ly thân từ tháng 02/2015 đến nay. Thời gian sống ly thân, anh G không quan tâm đến gia đình và anh, chị chấm dứt mọi quan hệ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị xin được ly hôn anh G. Chị xin ly hôn anh G chị đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.

Chị và anh G có 02 con chung là Nguyễn Thị D, sinh ngày 20/8/1988 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 01/7/1989. Hiện nay 02 con chung đều đã trưởng thành, tự lập được về kinh tế nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Hiện tại chị không có thai.

Chị và anh G đã tự giải quyết về tài sản chung; anh, chị không có công nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải về tài sản.

* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như lời khai tại phiên tòa; bị đơn anh Nguyễn Trường G trình bày:

Anh và chị Trịnh Thị T tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới vào năm 1987 (anh không nhớ ngày, tháng vì thời gian quá lâu) nhưng anh, chị không đăng ký kết hôn và cũng từ năm 1987 đến nay anh và chị T cũng không đăng ký kết hôn tại bất kỳ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào do cả hai hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Quá trình chung sống tình cảm anh chị hạnh phúc khoảng 17 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn bởi anh, chị không thống nhất quan điểm về phương pháp làm kinh tế, mặt khác chị T nghi ngờ anh có quan hệ bất chính nên anh chị thường xuyên cãi nhau; anh, chị có tìm biện pháp để khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả mà đến tháng 12/2014 mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Từ năm 2015 đến nay anh, chị sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, anh thỉnh thoảng có về thăm gia đình nhưng chị T không quan tâm đến anh. Nay chị T xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị T.

Anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Thị D, sinh ngày 20/8/1988 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 01/7/1989. Hiện nay hai con chung đã trưởng thành, tự lập về kinh tế nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Anh và chị T đã giải quyết xong với nhau về tài sản chung; anh, chị không nợ chung tài sản gì của ai và không cho ai vay mượn tài sản chung gì nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

* Tại Biên bản xác minh ngày 27/6/2017, đại diện thôn S; thôn A, xã V và đại diện UBND xã V, thành phố Thái Bình, cung cấp như sau:

Anh Nguyễn Trường G và chị Trịnh Thị T tự tìm hiểu và có tổ chức cưới vào tháng 9/1987 nhưng không đăng ký kết hôn. Kể từ tháng 9/1987 đến nay anh G, chị T cũng không đăng ký kết hôn tại UBND xã V, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Anh G, chị T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã V, thành phố Thái Bình và sinh sống tại đó từ năm 1987 đến khoảng năm 2002 thì anh, chị chuyển đến sinh sống tại thôn A, xã V, thành phố Thái Bình. Quá trình chung sống tại địa phương tình cảm anh, chị hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2015 anh G có biểu hiện quan hệ bất chính, mặt khác anh, chị không thống nhất về phương pháp làm kinh tế dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, đánh, cãi nhau. Tuy vậy anh, chị cũng không nhờ đến chính quyền địa phương hòa giải. Cũng khoảng từ năm 2015, anh G, chị T sống ly thân mỗi người một nơi. Địa phương xác định tình cảm của anh G, chị T khó có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh G, chị T có 02 con chung là Nguyễn Thị D, sinh ngày 20/8/1988 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 01/7/1989, hiện nay các cháu đều đã trưởng thành, có công việc làm và thu nhập ổn định vì vậy Tòa án không phải giải quyết về con chung. Về tài sản chung, anh G, chị T đã tự giải quyết về tài sản vì vậy Tòa án không phải giải quyết về tài sản chung. Hiện tại anh, chị không có công nợ gì của các tổ chức, đoàn thể tại địa phương nên địa phương không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.

Về nội dung:

- Quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; xử không công nhận chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Trường G là vợ chồng.

- Quan hệ con chung: Chị T, anh G có 02 con chung là Nguyễn Thị D, sinh ngày 20/8/1988 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 01/7/1989, đều đã trưởng thành, tự lập về kinh tế nên không đặt ra giải quyết.

- Về tài sản: Chị T, anh G đã tự giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra giải quyết.

- Về án phí: Chị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Trường G tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới theo phong tục truyền thống tại địa phương nhưng không đăng ký kết hôn và cũng từ khi sống chung đến nay anh, chị không đăng ký kết hôn tại bất kỳ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào nghĩa là anh, chị đã vi phạm Luật hôn nhân và gia đình. Nay cả hai anh chị đều xác định cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ gia đình được nữa nên thỏa thuận ly hôn. Xét thỏa thuận của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, tuy nhiên anh chị có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện nghĩa vụ đăng ký kết hôn, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016, cần xét xử theo hướng không công nhận chị T và anh G là vợ chồng.

[2] Về quan hệ con chung: Chị T và anh G có 02 con chung là Nguyễn Thị D, sinh ngày 20/8/1988 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 01/7/1989, hiện nay cả 02 con chung đều đã trưởng thành và tự lập được về kinh tế nên anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về quan hệ tài sản chung: Chị T, anh G đã tự giải quyết về tài sản chung, anh chị không vay nợ chung tài sản gì của ai và cũng không cho ai vay tài sản chung gì nên không yêu cầu giải quyết về tài sản.

[4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án thấy là hoàn toàn phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 4 Điều 147; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Trường G là vợ chồng.

2. Về quan hệ con chung: Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Trường G có 02 con chung là Nguyễn Thị D, sinh ngày 20/8/1988 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 01/7/1989, hiện nay 02 con chung đều đã trưởng thành, tự lập được về kinh tế nên anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về quan hệ tài sản chung: Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Trường G đã tự giải quyết về tài sản chung, anh chị không vay nợ chung tài sản gì của ai và cũng không cho ai vay mượn tài sản chung gì nên không yêu cầu giải quyết về tài sản.

4. Về án phí: Chị Trịnh Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp tại biên lai số 0006492 ngày 06/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 01/8/2017.


87
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về