Bản án 248/2020/DS-PT ngày 16/11/2020 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 248/2020/DS-PT NGÀY 16/11/2020 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VỀ TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 258/2020/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 76/2020/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 226/2020/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hùng C, sinh năm 1986 (có mặt):

Cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C ..

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đặng Huỳnh Quốc - Luật sư thuộc văn phòng luật sư Huỳnh Quốc thuộc đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt):

- Bị đơn: Chị Nguyễn Hồng P, sinh năm 1986 (có mặt):

Cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C ..

- Người kháng cáo: Chị Nguyễn Hồng P là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn, anh Nguyễn Hùng C trình bày: Anh có một ao tôm công nghiệp trải bạc diện tích 700m2 tọa lạc tại ấp Tân Điền A, xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Ngày 02/9/2019, anh bắt đầu thả tôm cho vụ nuôi với số lượng 150.000 con tôm thẻ giống, giá trị tôm giống là 15.900.000 đồng, vụ tôm đã được 53 ngày, mua tôm giống của Doanh nghiệp Sơn Trà ở Ninh Thuận. Vào lúc 04 giờ ngày 30/10/2019, vuông tôm của chị Nguyễn Hồng P bị vỡ đê, tràn ngập qua ao tôm công nghiệp của anh gây thiệt hại toàn bộ ao tôm. Sự việc được chính quyền địa phương ấp Tân Điền A lập biên bản lúc 06 giờ 50 phút ngày 30/10/2019. Đến ngày 29/11/2019, Ủy ban nhân dân xã Thanh Tùng tiến hành hòa giải vụ việc, anh yêu cầu chị P bồi thường thiệt hại số tiền tổng cộng là 87.000.000 đồng, chị P chỉ đồng ý hỗ trợ 5.000.000 đồng, anh không đồng ý. Nay anh yêu cầu chị P bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 109.200.000 đồng. Cụ thể: tiền tôm giống 150.000 con x 106 đồng/con = 15.900.000 đồng; tiền thức ăn tôm và thuốc thủy sản 57.444.000 đồng; tiền điện hai tháng 9, 10/2019 là 5.846.000 đồng (trong số tiền điện này thì có tiền điện sinh hoạt trong gia đình mỗi tháng khoảng 300.000 đồng); dụng cụ nuôi tôm bị hư hỏng gồm một máy bơm của Trung Quốc, không nhớ hiệu 4.400.000 đồng, một mô tơ điện hiệu Bảo Long 1.700.000 đồng; một giảm tốc hiệu Sinco 1.700.000 đồng, tiền công lao động của anh và người cùng nuôi tôm là 02 người x 200.000 đồng/người/ngày x 53 ngày = 21.200.000 đồng. Tại phiên tòa, anh C yêu cầu chị P bồi thường thiệt hại số tiền 90.455.000 đồng.

Bị đơn, chị Nguyễn Hồng P trình bày: Ngày 30/9/2019 do triều cường dâng quá cao nên dẫn đến tràn nước qua vuông anh C. Do phần đất của chị mới nhận chuyển nhượng của người khác nên vào ngày 29/9/2019 chị có kêu xáng cuốc be bờ do phía mặt tiền bị thấp và trước đó cũng có tràn nước. Vuông của chị và anh C cách nhau một phần đất. Ngoài ra, bờ của anh C thấp nên mới dẫn đến sự cố tràn bờ. Nay sự việc tràn nước là do thiên tai bất ngờ nên chị đồng ý hỗ trợ tiền tôm giống cho anh C 5.000.000 đồng vì sau khi tràn nước thì anh C có thu hoạch tôm bán được số tiền 10.700.000 đồng. Các khoản yêu cầu bồi thường khác chị không có khả năng bồi thường nên không đồng ý.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 76/2020/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi quyết định: Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hùng C. Buộc chị Nguyễn Hồng P có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Hùng C, tổng số tiền là 77.473.122 đồng (bảy mươi bảy triệu bốn trăm bảy mươi ba nghìn một trăm hai mươi hai đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu của khởi kiện của anh Nguyễn Hùng C về việc yêu cầu chị Nguyễn Hồng P bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Hùng C số tiền 12.981.878 đồng (mười hai triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/9/2020, chị Nguyễn Hồng P có đơn kháng cáo toàn bộ yêu cầu bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Nguyễn Hồng P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Phần tranh luận tại phiên toà:

Chị Nguyễn Hồng P trình bày: Chị đã thực hiện gia cố bờ bờ bao nên chị không có lỗi, chỉ đồng ý hỗ trợ 5.000.000 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nước triều cường làm nước tràn từ vuông của chị P gây thiệt hại cho anh C. Yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Hồng P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, buộc chị P phải bồi thường cho anh C số tiền 90.455.000 đồng.

Anh Nguyễn Hùng C không tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 76/2020/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Chị Nguyễn Hồng P cho rằng thiệt hại xảy ra là do thiên tai sự kiện bất khả kháng, chị không lường trước được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết nên chị yêu cầu sửa án sơ thẩm. Xét kháng cáo của chị P, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Chị P, anh C thống nhất trình bày: Vào ngày 30 tháng 10 năm 2019, do triều lên làm vỡ bờ vuông của chị P nước từ vuông của chị P tràn sang bờ vuông của ông Giai và tràn sang bờ vuông của anh C gây thiệt hại về tài sản của anh C gồm tôm và 01 máy bơm Trung Quốc, không nhớ hiệu, 01 mô tơ điện hiệu Bảo Long, 01 giảm tốc hiệu Sinco phục vụ cho việc nuôi tôm.

[3] Chị P cho rằng nước làm vở bờ vuông của chị P do thiên tai nên chị không có lỗi là không có cơ sở. Bởi lẽ, nước triều cường lên vào tháng 10 mỗi năm ở ấp Tân Điền A, xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau đã trở thành quy luật và chị P cũng biết điều này thể hiện qua việc chị P đã mướn xáng gia cố bờ. Hơn nữa, khu vực này, mỗi người đều phải gia cố bờ để vừa bảo vệ vuông của mình, đồng thời cũng để bảo vệ vuông người khác nên việc bờ vuông của chị P bị bể là có lỗi của chị P. Tuy nhiên, chị P được bàn giao đất ngày 26 tháng 10 năm 2019 đến ngày 28 tháng 10 năm 2019 thì chị P đã mướn xáng cuốc để gia cố bờ bao. Xét thấy, chị P mới vừa nhận đất và đã thực hiện ngay việc củng cố bờ bao để ngăn chặn việc bể bờ hoặc lở bờ nhưng do thủy triều lên, bờ chưa vững nên việc bể bờ vẫn xảy ra. Như vậy, việc bể bờ là do lỗi vô ý của chị P.

[4] Anh C là người ở địa phương, anh C biết việc bể bờ thường xuyên xãy ra và gây thiệt hại tôm nuôi của nhiều người ở địa phương. Anh C nuôi tôm công nghiệp nhưng lại không đắp bờ cao để tránh nước tràn vào vuông tôm công nghiệp là có một phần lỗi của anh C.

[5] Bản án dân sự sơ thẩm số: 76/2020/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xác định thiệt hại thực tế của anh C với số tiền 77.473.122 đồng là có cơ sở. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm buộc chị P bồi thường cho anh C toàn bộ số tiền 77.473.122 đồng là không phù hợp vì cả anh C và chị P đều có lỗi. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét anh C tự chịu ½ thiệt hại thực tế; chị P bồi thường ½ thiệt hại thực tế cho anh C.

[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc chị P bồi thường cho anh C ½ thiệt hại thực tế số tiền 38.736.561 đồng.

[7] Về chi phí định giá số tiền 3.000.000 đồng anh C đã dự nộp xong: Anh Nguyễn Hùng C phải chịu số tiền 1.500.000 đồng, chị Nguyễn Hồng P phải chịu số tiền 1.500.000 đồng, chị P có trách nhiệm hoàn lại cho anh C số tiền 1.500.000 đồng.

[8] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Hồng P phải chịu số tiền 1.936.800 đồng (Làm tròn số). Anh Nguyễn Hùng C phải chịu số tiền 2.585.900 đồng (Làm tròn số).

[9] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của chị Nguyễn Hồng P được chấp nhận nên chị P không phải chịu.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Nguyễn Hồng P.

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 76/2020/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hùng C.

Buộc chị Nguyễn Hồng P có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Hùng C, tổng số tiền là 38.736.561 đồng (Ba mươi tám triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi mốt đồng).

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của khởi kiện của anh Nguyễn Hùng C về việc yêu cầu chị Nguyễn Hồng P bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh C số tiền 51.718.439 đồng (Năm mươi mốt triệu bảy trăm mười tám nghìn bốn trăm ba mươi chín đồng).

3. Về chi phí định giá: Anh Nguyễn Hùng C phải chịu số tiền 1.500.000 đồng, anh C đã nộp xong. Chị Nguyễn Hồng P phải chịu số tiền 1.500.000 đồng. Anh C đã nộp thay chị P số tiền 1.500.000 đồng, chị P có trách nhiệm hoàn trả cho anh C số tiền 1.500.000 đồng.

Kể từ ngày anh Nguyễn Hùng C có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng chị Nguyễn Hồng P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Hồng P phải chịu số tiền 1.936.800 đồng. Anh Nguyễn Hùng C phải chịu số tiền 2.585.900 đồng. Ngày 17/02/2020 anh C có dự nộp tạm ứng án phí số tiền 2.730.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010367 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được đối trừ; anh C được nhận lại số tiền 144.100 đồng.

Về án phí phúc thẩm: Chị Nguyễn Hồng P không phải chịu. Ngày 04/9/2020, chị P có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 248/2020/DS-PT ngày 16/11/2020 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tài sản

Số hiệu:248/2020/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/11/2020
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về