Bản án 245/2017/HSST ngày 26/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 245/2017/HSST NGÀY 26/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay ngày 26 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 249/2017/HSST ngày 10-7-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2017/QĐXXHS-ST ngày 14tháng 7 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Quang T - sinh năm 1977

Nơi sinh: Thành phố Đ

Nơi cư trú: 45E Ô 19, phường L, thành phố Đ, tỉnh Nam Định

Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp

Dân tộc: Kinh                     Quốc tịch: Việt Nam

Tôn giáo: Không               Văn hóa: 7/12

Con ông: Triệu Minh N (đã chết)

Con bà: Trần Thị P - sinh năm 1946

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba.

Vợ, con: Chưa có

Tiền án; tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 29-3-1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Hưng xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân” và 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản công dân”.

- Ngày 30-7-2003 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 14-10-2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phúc thẩm phạt30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 03-6-2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 20-8-2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-4-2017, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 20-4-2017 cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Nam Định.

( bị cáo Triệu Quang T có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 14-4-2017, tổ công tác Công an phường M - thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường G – T, phường N, thành phố Nam Định phát hiện Triệu Quang T đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, T thả từ tay trái xuống đất 01 gói nilon nhỏ bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là gói Heroine). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, đưa T cùng người làm chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người có hành vi phạm pháp quả tang theo quy định của pháp luật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 321/GĐKTHS ngày17-4-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong gói nhỏ thu giữ là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có trọng lượng 0,150 gam (Không phẩy một năm mươi gam).

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Triệu Quang T khai về nguồn gốc gói Heroin T mua của một người đàn ông không quen biết tại một ngõ khu vực 3 tầng đường C, phường N, thành phố Nam Định mục đích để sử dụng cho bản thân.

Đối với đối tượng đã bán gói ma túy cho T, tài liệu Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên đã tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Bản cáo trạng số 260/QĐ-KSĐT ngày 10-7-2017 của Viện kiểm sát nhândân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Triệu Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Triệu Quang T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Quang T phạm tội “Tàng trữ tráiphép chất ma túy”; Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Triệu Quang T từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù; Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.

Bị cáo Triệu Quang T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Triệu Quang T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Triệu Quang T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ ngày 14-4-2017, Triệu Quang T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,150 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực ngã tư đường G -T, phường N, thành phố Nam Định. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroin bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,150 gam nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện tội phạm, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Triệu Quang T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngoài ra, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử sẽ vận dụng quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Xét bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử nhiều lần nhưng bị cáo không ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thểhiện bản chất coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Triệu Quang T tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo Triệu Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1999 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Triệu Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Triệu Quang T 27 tháng tù (hai mươi bẩy tháng) Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14-4-2017.

2. Xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-6-2017).

3. Án phí:

- Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Bị cáo Triệu Quang T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) ánphí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Triệu Quang T được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


62
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về