Bản án 243/2017/HSPT ngày 26/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và vũ khí quân dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 243/2017/HSPT NGÀY 26/12/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ VŨ KHÍ QUÂN DỤNG 

Ngày 26/12/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 193/2017/HSPT ngày 25/10/2017 đối với bị cáo Nguyễn Tiền L và anh Nguyễn Ngọc L; do có kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 50/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Tiền L - Sinh năm 1985

Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Xóm K, xã Y, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Không; văn hóa:12/12; con ông: Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ. Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 03 tiền án:

- Ngày 01/6/2004 TAND thị xã Hòa Bình, xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 13/7/2005 TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”

- Ngày 19/11/2012 TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”;

Bị bắt theo lệnh bắt khẩn cấp ngày 26/9/2016; tạm giữ ngày 27/9/2016, tạm giam ngày 03/10/2016 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Gia Trưởng, Luật sư VPLS Phạm Hồng Hải & Cộng sự, Đoàn Luật sư Thành Phố Hà Nội, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1988, trú tại Bản B, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

NHẬN THẤY

Theo cáo trạng và bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Khoảng 18h ngày 26/9/2016, tại thôn T, xã H, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và Công an tỉnh Lào Cai phối hợp với lực lượng chức năng thi hành lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Tiền L là nghi can trong vụ án mua bán trái phép 10 bánh Heroine. Quá trình bắt và khám xét đã thu giữ trên người và xe ô tô Ford Ranger BKS 29C-65007 do Nguyễn Tiền L điều khiển những tài sản và đồ vật sau:

Thu trên người L: 01 súng ngắn K54, số hiệu 4212; 01 hộp đạn 07 viên, trong đó có 01viên đã lên nòng; 01 súng ngắn K59, số hiệu USA 88559, trong súng có 08 viên đạn, có 01 viên đã lên nòng; 01 hộp kim loại trên mặt hộp có chữ SONY, bên trong có 5 viên đạn K59 và 09 viên đạn K54; 01 điện thoại di động Xphon và 01 điện thoại di động Nokia màu vàng 6300;

Thu giữ trên xe ô tô Ford Ranger biển số 29C-65007 do Nguyễn Tiền L điều khiển: 02 điện thoại Iphon, 02 điện thoại Nokia màu xanh đen và màu đỏ; 01 khẩu súng nhựa màu đen; 01 chứng minh thư nhân dân, 01 sổ hộ chiếu đều mang tên Nguyễn Tiền L; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 29C-65007; tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 229.400.000VNĐ; 01 túi nilon chứa 153 viên nén, 02 túi nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng dạng đá; 01 túi đen màu nâu cũ, 01 túi vải đã cũ.

Tại bản kết luận giám định số 190/GĐMT ngày 29/9/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Túi số 1 chứa 153 viên nén là chất ma túy Methamphetamine, trọng lượng 14,49gam. Túi số 2 chứa các hạt tinh thể rắn không màu là chất ma túy Methamphetamine, trọng lượng 1,80 gam. Túi số 03 chứa các hạt tinh thể rắn không màu là chất ma túy Methamphetamine có trọng lượng 0,92 gam.

Tại kết luận giám định vật liệu nổ số 106/KL-PKT ngày 30 tháng 9 năm 2016 của Phòng kỹ thuật Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lào Cai kết luận: Súng kiểu K54, có số H4212 là súng quân dụng kiểu súng ngắn K54 cỡ nòng 7,62mm, do Liên Xô sản xuất, hiện đang còn hoạt động và sử dụng được. Súng K59 có số USA88559 là súng quân dụng kiểu súng ngắn K59, cỡ nòng 9mm do Mỹ sản xuất hiện đang còn hoạt động và sử dụng được. 29 viên đạn là đạn đang sử dụng cho súng quân dụng gồm 16 viên 7,62mm K54 và 13 viên 9mm K59.

Tại kết luận số 1458/MT-PC54 ngày 06/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Mẫu vật gửi giám định túi số 01 có hàm lượng Methamphetamine 13,59%. Mẫu vật gửi giám định túi số 02 có hàm lượng Methamphetamine 63,48%. Mẫu vật gửi giám định túi số 03 có hàm lượng 63,71%. Do đó trọng lượng chất Methamphetamine được xác định như sau: Túi số 01: 14,49gam x 13,59% = 1,969gam. Túi số 02: 1,80gam x 63,48% =1,142 gam. Túi số 03: 0,920gam x 63,71% = 0,586gam. Tổng trọng lượng Methamphetamine nguyên chất Nguyễn Tiền L tàng trữ trái phép là: 1,969g + 1,142g + 0,586g = 3,697 gam (ba phẩy sáu chín bảy gam)

Nguồn gốc số ma túy trên, quá trình điều tra, ban đầu Nguyễn Tiền L khai mua khoảng ngày 23/9/2016 của một người không quen biết tại bến xe Mỹ Đình ở Hà Nội với giá 5.000.000đ, để sử dụng dần, còn 02 khẩu súng quân dụng và 29 viên đạn thu giữ trên người, bị cáo khai nhặt được trên Quốc lộ 6 ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Từ ngày 05/12/2016 đến ngày kết thúc điều tra Nguyễn Tiền L phản cung không nhận ma túy và súng, đạn là của bị cáo.

Xe ô tô BKS 29C-650.07 cùng với giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô và số tiền 229.400.000đ Nguyễn Ngọc L (em trai của L) cho Nguyễn Tiền L mượn, đã được Cơ quan điều tra giao lại cho Nguyễn Ngọc L.

Do có hành vi nêu trên, tại Bản án số 50/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã quyết định: Nguyễn Tiền L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194; điểm đ khoản 2 Điều 230; Điều 33, 50 BLHS 1999; điểm n khoản 2 Điều 249; Khoản 3 Điều 7  BLHS 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14. Xử phạt Nguyễn Tiền L 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2016.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, xử lý tài sản, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Sau án sơ thẩm xử, ngày 27/9/2017 Nguyễn Tiền L có đơn kháng cáo kêu oan và kêu bị mất tài sản, đề nghị làm rõ.

Ngày 03/10/2017 người có quyền lợi liên quan Nguyễn Ngọc L kháng cáo đề nghị làm rõ việc khám phương tiện của Công an huyện Hà Trung, Thanh Hóa đối với xe ô tô Ford Ranger BKS 29C-65007.

Tại phiên tòa, Nguyễn Tiền L, Nguyễn Ngọc L giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thấy việc kêu oan của bị cáo là không có căn cứ nên đề nghị HĐXX giữ nguyên tội danh, hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo L.

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến cho rằng quá trình điều tra và khám xét phương tiện không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên chưa đủ cơ sở để kết tội bị cáo. Luật sư đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Tại phiên toà phúc thẩm, Nguyễn Tiền L không thừa nhận hành vi của bị cáo như cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu, không nhận ma túy và súng, đạn trong xe ô tô Ford Ranger BKS 29C-65007 là của bị cáo. Bị cáo nại rằng bị ép cung, bị đánh đập, đe dọa nên mới ký vào các biên bản hỏi cung và viết các bản tự khai ban đầu theo hướng dẫn của Công an. Người khác bỏ ma túy và súng, đạn vào xe ô tô Ford Ranger BKS 29C-65007 nhằm vu oan cho bị cáo. Bị cáo cho rằng bị oan và không có tội như bản án sơ thẩm đã xử.

HĐXX thấy rằng: Tại biên bản lấy lời khai L tại các BL 198-203; 204, 205; 206, 207, 208, 209, 210, 211, 212, 213, 214, 215, L đều trình bày sức khỏe bình thường, hoàn toàn tỉnh táo, minh mẫn để làm việc với cơ quan điều tra. Cuối các biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung bị can, L đều ký nhận đã đọc kiểm tra lại biên bản và khai nhận là đúng.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 28/9/2016 và ngày 29/9/2016 (BL: 208-209; 212-213) có sự tham gia của Kiểm sát viên, của luật sư Tạ Văn Phú và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, bị cáo L khai “Quá trình làm việc với cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai bị cáo không bị đánh đập ép buộc gì, toàn bộ lời khai là do bị cáo tự nguyện khai báo”. Tại bản khai này L còn khai nhận nhặt được súng, đạn chưa kịp báo cáo với cơ quan chức năng và quá trình khám xe ô tô Ford Ranger BKS 29C-65007 có 153 viên ma túy tổng hợp.

Tại bản tự khai ngày 27/9/2016 và ngày 29/9/2016 L khai nhận hành vi đúng như cáo trạng truy tố; tại bản cung ngày 12/5/2017 ở Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, có sự chứng kiến của Luật sư (BL 362), bị cáo khai quá trình điều tra tại tỉnh Lào Cai bị cáo có nhớ một đến hai lần có Kiểm sát viên tham gia lấy lời khai và có Luật sư tham gia; những lần làm việc đó bị cáo không bị ép cung.

Trong biên bản về việc bắt người lập hồi vào 18 giờ ngày 26/9/2016 tại Trụ sở Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (BL 152), trước sự chứng kiến của nhiều người, bị cáo trìng bày “Tôi không đồng ý bảo tôi bán ma túy; 02 khẩu súng quân dụng và số ma túy là của tôi. Súng tôi nhặt được, còn ma túy tôi mua về sử dụng cho bản thân tôi”.

Hội đồng xét xử thấy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng này đều hợp pháp không xâm phạm quyền lợi hợp pháp của bị cáo và anh Nguyễn Ngọc L.

Với các chứng cứ, tài liệu như đã nêu trên, HĐXX có đủ cơ sở kêt luận: Vào khoảng 18 giờ ngày 26/9/2016, tại thôn Tam Quy, xã Hà Tân, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Tiền L đang có hành vi tàng trữ trái phép 3,697gam Methamphetamine; 02 khẩu súng ngắn quân dụng và 29 viên đạn trong xe ôtô Ford Ranger BKS 29C-65007 khi xe đang lưu thông trên đường thì bị Công an bắt quả tang người cùng với tang vật.

Với hành vi trên và bị cáo đang có 03 tiền án chưa được xóa án tích nên bản án sơ thẩm đã xử bị cáo Nguyễn Tiền L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo điểm p khoản 2 Điều 194 và điểm đ khoản 2 Điều 230 là có căn cứ, không oan sai. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân bị cáo, quyết đình hình phạt phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy cần giữ nguyên.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, HĐXX thấy không có căn cứ.

Các nội dung khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không xem xét.

Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Tiền L. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Ngọc L.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 50/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Toà án nhân dân huyện Hà Trung về tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Tiền L.

Áp dụng: điểm p khoản 2 Điều 194; điểm đ khoản 2 Điều 230; Điều 33, 50 Bộ luật hình sự 1999; điểm n khoản 2 Điều 249; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Xử phạt: Nguyễn Tiền L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2016.

Bị cáo L phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


102
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về