Bản án 24/2021/HNGĐ-ST ngày 26/01/2021 về ly hôn và con chung khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 24/2021/HNGĐ-ST NGÀY 26/01/2021 VỀ LY HÔN VÀ CON CHUNG KHI LY HÔN 

Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 726/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn và con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2021/QĐST-HGNĐ, ngày 08 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Đ; Nơi cư trú: Thôn S, xã P, huyện T, thành phố H; Vắng mặt (Có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị Trịnh Thị Thu H; Nơi cư trú: Thôn S, xã P, huyện T, thành phố H; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Phạm Văn Đ trình bày: Anh và chị Trịnh Thị Thu H kết hôn với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố H vào năm 2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh tại thôn S, xã P, huyện T, thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được đến tháng 7/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, trong cuộc sống gia đình vợ chồng không thể có tiếng nói chung để cùng lo vun đắp xây dựng gia đình và chăm sóc các con, nên dẫn đến vợ chồng thường hay xảy ra tranh chấp, cãi mắng nhau, cuộc sống hôn nhân vợ chồng rơi vào tình trạng trầm trọng, mặc dù sống chung cùng nhà song vợ chồng gần như đã sống ly thân nhau từ lâu. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, chị H đã bỏ nhà về sinh sống cùng mẹ đẻ, nay anh Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể Hn gắn đoàn tụ với nhau được nữa anh đề nghị được ly hôn chị Trịnh Thị Thu H.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên: Phạm Thị Mai N, sinh ngày 17/10/2018, do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng chị H bỏ nhà đi để lại con nhỏ cho anh Đ nuôi dưỡng, chăm sóc cùng sự hỗ trợ giúp đỡ của bố mẹ anh trong việc chăm sóc con, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay chị H không về thăm con và cũng không về chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Trong quá trình chung sống sau khi sinh con được 03 tháng chị H không nuôi con bằng sữa mẹ nữa, ở nhà nhưng không chăm sóc con cẩn thận mải chơi game khi con được 07 tháng xin đi làm công nhân sau đó làm được 01 tháng thì bỏ việc ở nhà không làm gì, cũng không chăm sóc con nên dẫn đến vợ chồng xảy ra căng thẳng, chị H bỏ nhà đi về nhà bố mẹ đẻ ở đến tháng 01/2020 anh Đ vì thương con nhỏ nhiều lần tìm chị H về để vợ chồng đoàn tụ nuôi con nhưng khi về nhà chị H vẫn mải chơi game cũng không quan tâm chăm sóc con chung và chỉ được đến tháng 7/2020 chị H tiếp tục bỏ nhà đi từ đó đến nay không về nữa, bản thân anh Đ đi làm công nhân lương thu nhập được 7.000.000 đồng/tháng mua sữa ngoài cho con uống hết 3.000.000 đồng/tháng, còn lại mua bỉm cho con. Hng ngày anh Đ đi làm con chung được ông, bà nội giúp đỡ trông nom, chăm sóc, trong quá trình chung sống bản thân anh Đ cũng không có hành vi đánh đập, xúc phạm chị H và kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay anh Đ cũng không có hành vi ngăn cản, cấm đoán chị H trong việc đưa đón, chăm sóc con chung. Anh Đ vẫn thường xuyên đến nhà mẹ đẻ chị H (là bà ngoại) cháu để nhờ bà khuyên bảo chị H tuy nhiên đều không có kết quả, chị H vẫn không về và cũng không quan tâm con. Nay anh Đ xin ly hôn và đề nghị Tòa án giao con chung cho anh tiếp tục nuôi dưỡng anh không đồng ý để Tòa án giao con cho chị Trịnh Thị Thu H.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bản thân chị H không chịu khó lao động, không có công việc ổn định, nên anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết mà để anh và chị H tự thỏa thuận với nhau.

- Về tài sản chung: Sau khi kết hôn vợ chồng vẫn sinh sống chung cùng bố mẹ nên không có tài sản chung, do vậy anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Trịnh Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai chị Trịnh Thị Thu H vẫn không có văn bản ghi ý kiến gửi đến Tòa án trình bày về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và con chung khi ly hôn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn Đ.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn anh Phạm Văn Đ đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn là chị Trịnh Thị Thu H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Phạm Văn Đ tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Trịnh Thị Thu H. Và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận: Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Trịnh Thị Thu H. Về con chung: Giao con chung tên: Phạm Thị Mai N, sinh ngày 17/102/2018, cho anh Phạm Văn Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi từng con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phạm Văn Đ không yêu cầu, nên không đề cập giải quyết; Về tài sản chung: Anh Phạm Văn Đ không có yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Bản sao Sổ hộ khẩu gia đình; Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Giấy khai sinh của con; Bản sao Giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn Đ và Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Thị Thu H; Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã P và Công an xã P, huyện T, thành phố H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn là chị Trịnh Thị Thu H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Văn Đ và chị Trịnh Thị Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2018, ngày 10 tháng 01 năm 2018 là hôn nhân hợp pháp. Tài liệu, chứng cứ thể hiện: Anh Đ và chị H chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc đến tháng 7/2020 thì phát sinh mâu thuẫn và căng thẳng. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình vợ chồng không có tiếng nói chung trong việc chăm sóc con chung, do mâu thuẫn vợ chồng không thể Hn gắn được nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 7/2020 đến nay không còn quan tâm nhau, nay để ổn định cuộc sống anh Đ đề nghị được ly hôn chị Trịnh Thị Thu H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử tuy nhiên đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai chị H vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến trình bày về yêu cầu xin ly hôn của anh Đ. Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị H đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ, cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Trịnh Thị Thu H.

[3]. Về con chung Anh Phạm Văn Đ và chị Trịnh Thị Thu H có 01 con chung tên: Phạm Thị Mai N, sinh ngày 17/10/2018, kể từ tháng 7/2020 cho đến nay anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung có sự giúp đỡ của ông, bà nội. Căn cứ theo quy định của pháp luật con chung tên Phạm Thị Mai N hiện nay dưới 36 tháng tuổi cần phải giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn chị Trịnh Thị Thu H đến phiên tòa, song chị H vẫn vắng mặt không có ý kiến trình bày nguyện vọng về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Mặt khác tài liệu, chứng cứ thể hiện từ sau khi sinh con được 3 tháng chị H đã không nuôi con bằng sữa mẹ, không tận tình chăm sóc con, trong quá trình chung sống nhiều lần bỏ con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống gần đây nhất là chị H đã bỏ nhà đi từ tháng 7/2020 không về và cũng không quan tâm, chăm sóc con chung. Anh Đ là người trực tiếp nuôi con chung có sự hỗ trợ giúp đỡ của ông bà nội cháu, kể từ khi chị H bỏ nhà đi đến nay con chung do anh Đ nuôi dưỡng, phát triển khỏe mạnh bình thường, đảm bảo tốt về mọi mặt.Vì vậy việc giao con chung cho bố hoặc mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc cần phải xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Xét việc nuôi con của anh Đ đã ổn định để con chung được nuôi dưỡng, chăm sóc trong điều kiện tốt nhất thì cần thiết phải tiếp tục giao cho anh Đ tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phạm Văn Đ trình bày để anh và chị Trịnh Thị Thu H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, chị H chưa có ý kiến trình bày về cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung Anh Phạm Văn Đ trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trịnh Thị Thu H chưa có ý kiến trình bày về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Anh Phạm Văn Đ phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Trịnh Thị Thu H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Thị Mai N, sinh ngày 17/10/2018, cho anh Phạm Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi từng con chung trưởng thành đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Phạm Văn Đ phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002367, ngày 14 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T thành phố H. Anh Phạm Văn Đ đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2021/HNGĐ-ST ngày 26/01/2021 về ly hôn và con chung khi ly hôn

Số hiệu:24/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về