Bản án 24/2021/HNGĐ-ST ngày 25/01/2021 về ly hôn

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 24/2021/HNGĐ-ST NGÀY 25/01/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 505/2020/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2020/QĐXX-ST ngày 24 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1996 (có mặt) Địa chỉ: Ấp 3, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện nay: Ấp 3, xã A, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Trần Minh C, sinh năm 1987 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp 3, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện ngày 26/ 11/2020 và tại biên bản hòa giải ngày 18/12/2020 cũng như tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Hồng V trình bày:

Chị và anh C chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 19/01/2015 tại UBND xã T, huyện Thới Bình. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị và anh C đã ly thân từ tháng 11 năm 2020 đến nay. Nay chị yêu cầu giải quyết:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị và anh C có 02 người con chung tên Trần Thiện Nh, sinh ngày 06/7/2016 và Trần Thiện Ph, sinh ngày 18/02/2018. Hiện nay cháu Ph do chị nuôi dưỡng, cháu Nh do anh C nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ph, yêu cầu anh C tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nh, không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

*Trình bày ông Trần Minh C tại bản tự khai ngày 18/12/2020 và biên bản hòa giải ngày 18/12/2020:

Anh thống nhất với phần trình bày của chị V về các mối quan hệ như hôn nhân, con chung và mâu thuẫn vợ chồng.

Nay anh không thống nhất ly hôn với chị V.

Về con chung: Anh đang nuôi dưỡng cháu Nh, cháu Ph do chị V nuôi dưỡng. Anh không thống nhất theo yêu cầu của chị V.

Về tài sản chung: Anh và chị V tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Anh và chị V tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Tại hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thể hiện chị V và anh C chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị V yêu cầu ly hôn với anh C. Do đó, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Trần Minh C được ly hôn. Con chung giao cháu Ph cho chị V tiếp tục nuôi dạy, giao cháu Nh cho anh C tiếp tục nuôi dạy. Chị V và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận nên không đề nghị xem xét. Nợ chung chị V xác định không có nợ, anh C xác định nợ chung tự thỏa thuận nhưng anh không có chứng cứ gì để chứng minh nên không đề nghị xét. Án phí Hôn nhân và gia đình chị V chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Hồng V khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Trần Minh C. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn. Anh C có địa chỉ tại ấp 3, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh C nhưng anh C vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh C theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Trần Minh C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 19/01/2015. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả nên cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên anh chị đã ly thân từ tháng 11 năm 2020 cho đến nay mà không có thiện chí đoàn tụ. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để chị V và anh C có điều kiện thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả. Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 24/12/2020 thể hiện mâu thuẫn giữa chị V và anh C đã được hàn gắn nhưng không thành do anh C không sửa đổi. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị V và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Trần Minh C được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu Ph, yêu cầu anh C tiếp tục nuôi dạy cháu Nh, tuy nhiên anh C không đồng ý. Xét thấy, anh C hiện nay đang nuôi dạy cháu Trần Thiện Nh, sinh ngày 06/7/2016, chị V đang nuôi dạy cháu Trần Thiện Ph, sinh ngày 18/02/2018, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình càm của các cháu. Đồng thời cháu Ph hiện nay dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cho chị V tiếp tục nuôi dạy. Do chị V và anh C mỗi người đều nuôi 01 cháu, không ai đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

[5] Về tài sản chung: Chị V và anh C xác định thời gian chung sống anh chị có tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị V xác định không có nợ chung, anh C xác định nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, anh C không có chứng cứ chứng minh việc anh chị có nợ chung. Đồng thời tại xác nhận ngày 26/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã T xác nhận không nhận được yêu cầu thưa kiện về nợ đối với chị V và anh C. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng V phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Trần Minh C được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Thiện Nhân - sinh ngày 06/7/1996 (giới tính nam) cho anh Trần Minh C tiếp tục nuôi dạy, giao cháu Trần Thiện Phúc - sinh ngày 18/02/2018 (giới tính nam) cho chị Nguyễn Thị Hồng V tiếp tục nuôi dạy. Chị V và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị V không trực tiếp nuôi dạy cháu Nhân, anh C không trực tiếp nuôi dạy cháu Phúc nhưng anh chị có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng V phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 30 tháng 11 năm 2020 chị V có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011343 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

4.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh C vắng mặt nên anh C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.


47
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2021/HNGĐ-ST ngày 25/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:24/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/01/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về