Bản án 24/2019/DS-PT ngày 23/04/2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 24/2019/DS-PT NGÀY 23/04/2019 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2018/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2018/DSST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện K bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 22/2019/QĐXXPT-DS ngày 01 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1 - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M C, sinh năm 1963

Địa chỉ: Khu 07, xã X, huyện K, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

2 - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1931

Địa chỉ: Khu 07, xã X, huyện K, tỉnh Phú Thọ.

+ Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Quang M, sinh năm 1977

Địa chỉ: Khu 07, xã X, huyện K, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1- Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc T; chức vụ: Trưởng phòng tài nguyên & Môi trường huyện K, tỉnh Phú Thọ (theo văn bản ủy quyền số 1352/GUQ-UBND ngày 26/9/2018 (có đơn xin xử vắng mặt).

3.2- Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Trọng T; chức vụ: Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).

3.3- Anh Nguyễn Quang M, sinh năm 1977 (con trai ông T)

Địa chỉ: Khu 07, xã X, huyện K, tỉnh Phú Thọ (có mặt)

3.4- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980 (là vợ anh M)

Địa chỉ: Khu 07, xã X, huyện K, tỉnh Phú Thọ.

3.5 - Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1989 (con gái bà C)

Địa chỉ: Khu 07, xã X, huyện K, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

+ Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M C trình bày: Bố đẻ bà là ông Nguyễn Xuân Khoát có thửa đất thổ cư số 602, tờ bản đồ số 04, tại khu 07, xã X, có nguồn gốc do khai phá từ năm 1965 và gia đình ông Khoát làm nhà ở. Từ khi làm nhà ở có lối đi từ nhà qua phần đất do Ủy ban nhân dân xã X quản lý để đi ra đường rất thuận lợi.

Năm 1976 Ủy ban nhân dân xã X giao cho gia đình ông Nguyễn Văn T sử dụng thửa đất (có lối đi của gia đình bà), được đăng ký quyền sử dụng là thửa số 02, tờ bản đố số 05, tuy nhiên gia đình bà vẫn sử dụng lối đi qua thửa đất này, sau đó ông Khoát cho bà thửa đất này thì gia đình bà vẫn sử dụng lối đi này.

Năm 2002, gia đình ông Nguyễn Văn T đã rào vườn và chiếm lối đi của gia đình bà, nhưng tại thời điểm đó vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên gia đình bà pH đi làm thuê không ở nhà, đến năm 2004, ông T tiếp tục cho múc đất hạ cốt nền nên gia đình bà pH đi nhờ cổng của hộ ông Nguyễn Hữu Phúc liền kề. Sau đó ông Nguyễn Hữu Phúc cũng thuê máy múc hạ cốt nền thửa đất của gia đình ông nên gia đình bà không thể tiếp tục đi nhờ lối nhà ông Phúc được nữa nên pH mở lối đi khác đi từ nhà ra đường xóm để đi tạm.

Năm 2017 gia đình bà cũng cho hạ cốt nền bề mặt thửa đất này thấp hơn đường xóm nên không thể đi ra đường được mà tiếp tục pH đi nhờ lối cổng gia đình ông Phúc để đi ra đường. Nay bà đề nghị gia đình ông T pH trả lại lối đi cho gia đình bà để đi lại cho thuận tiện.

+ Anh Nguyễn Quang M được ông T ủy quyền, trình bày:

Năm 1973 bố anh là ông Nguyễn Văn T được Ủy ban nhân dân xã X giao sử dụng thửa đất số 02, tờ bản đồ số 05, tại khu 07, xã X. Do phần đất gia đình ông T giáp đất ông Khoát nhưng không có bờ rào nên nên một số hộ gia đình trong khu tự mở lối đi nhờ qua đất của gia đình anh để ra đường, đến năm 1999 gia đình anh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này.

Để đảm bảo quyền sử dụng đất, năm 2002, gia đình anh rào lối đi này, không cho mọi người trong xóm đi nhờ qua đất nữa. Trong khi hộ gia đình bà C ở gần nhà ông nhưng đất gia đình bà C giáp đường xóm và gia đình bà C mở lối đi trực tiếp từ nhà ra đường xóm, không đi nhờ qua thửa đất của gia ông T. Vì vậy hai bên không có tranh chấp gì.

Năm 2017, bà C cho hạ cốt nền bề mặt thửa đất của gia đình bà thấp hơn đường xóm khoảng 5 mét, đã phá bỏ lối đi của gia đình bà đi từ nhà ra đường xóm dẫn tới không sử dụng lối đi này được nữa nên pH đi nhờ qua lối cổng nhà ông Phúc để đi ra đường.

Nay bà C khởi kiện đòi lại lối đi này thì gia đình anh không chấp nhận bởi vì: trong quy hoạch thuộc phần đất Ủy ban nhân dân huyện K đã cấp cho gia đình anh, nên không chấp nhận trả lại lối đi theo yêu cầu khởi kiện của của bà C.

+ Đại diện Ủy ban nhân dân xã X và tại bản tự khai ngày 28/9/2018, đại diện Ủy ban nhân dân huyện K cùng có quan điểm trình bày: Hộ ông Nguyễn Văn T được Ủy ban nhân dân xã X lập hồ sơ thửa đất số 02, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.338m2 và được Ủy ban nhân dân huyện Sông Thao (nay là huyện K) cấp thửa giấy chứng nhận thửa đất này ngày 29/12/1999. Sau đó ông T nhận chuyển nhượng thửa đất số 01, tờ bản đồ số 05, giáp thửa đất này, sau đó được đo hợp thức thể hiện tại bản đồ lập Địa chính chính quy Bản đồ VN 200 lập năm 2012) là thửa số 826, tờ bản đồ số 05 diện tích thực tế 2.251m2.

Hộ bà Nguyễn Thị M C được Ủy ban nhân dân xã X lập hồ sơ thửa đất số 602, tờ bản đồ số 04, diện tích 818m2 và được Ủy ban nhân dân huyện Sông Thao (nay là huyện K) cấp thửa giấy chứng nhận thửa đất này ngày 29/12/1999; sau đó được đo thể hiện tại bản đồ địa chính chính quy là thửa số 723, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.215,2m2.

Việc cấp giấy chứng nhận đối với các thửa đất của hộ bà C và hộ ông T thực hiện đúng quy định của pháp luật. Còn việc tranh chấp giữa các bên đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H có quan điểm trình bày nhất trí quan điểm của anh Nguyễn Quang M đã trình bày trên. Tòa án tiến hành tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa đất của hộ bà C diện sử dụng tích thực tế 1.388,2m2, diện tích thửa đất của hộ ông Nguyễn Văn T sử dụng diện tích 2.163m2 và xem xét phần diện tích đất tranh chấp do bà C yêu cầu có cạnh EGLM, diện tích 141,2m2 thể hiện theo sơ đồ hiện trạng (BL số 48) trị giá tài sản tranh chấp là 9.884.000đồng.

+ Tại bản án dân sự sơ thẩm số 15/2018/DSST ngày 29/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện K đã áp dụng: khoản 1, 5 Điều 166; khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 2 Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, 3 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

+ Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M C đối với ông Nguyễn Văn T về việc đòi quyền sử dụng lối đi diện tích 141,2m2 tại thửa đất số 02, tờ bản đồ số 05, ở khu 07, xã X .

Xác nhận diện tích 141,2m2 đất hiện đang tranh chấp nằm trong thửa đất số 02, tờ bản đồ số 05, tại khu 07, xã X, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/12/1999 thuộc quyền sử dụng của hộ ông Nguyễn Văn T. Ngoài ra bản án còn tính án phí, chi phí thẩm định, tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

+ Ngày 12/11/2018 bà C có đơn kháng cáo với nội dung không nhất trí bản án sơ thẩm, đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vô án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật. Quan điểm về nội dung vụ án là không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về nội dung đơn kháng cáo của bà C: Đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử thấy rằng: Án sơ thẩm đã xem xét, lấy lời khai của các đương sự, của đại diện ủy ban nhân dân, của người làm chứng, đặc biệt chính bà C cũng thừa nhận trước đây gia đình bà có đi qua đất của Hợp tác xã, sau đó gia đình ông T được cấp đất thì gia đình bà vẫn đi lối đi này, đến năm 2002 gia đình ông T rào lối đi thì gia đình bà đã đi nhờ qua nhà ông Phúc. Sau đó ông Phúc thuê máy múc hạ cốt nền của nhà ông nên gia đình bà không thể đi nhờ lối nhà ông Phúc được nữa nên pH mở lối đi khác đi từ nhà ra đường xóm để đi tạm. Năm 2017 gia đình bà cho hạ cốt nền bề mặt thửa đất này thấp hơn đường xóm nên không thể đi ra đường được mà tiếp tục pH đi nhờ lối cổng gia đình ông Phúc để đi ra đường.

Tại bản đồ giải thửa 299 và bản đồ địa chính chính quy VN2000 hiện nay đang lưu giữ tại Ủy ban nhân dân xã X thì thửa đất số 02, tờ bản đồ số 05 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T, không quy hoạch có lối cổng đi của hộ bà Nguyễn Thị M C đi qua thửa đất của hộ ông T để đi ra đường. Hộ bà C được cấp GCNQSD đất diện tích 818m2 tại thửa số 602, tờ bản đồ số 4, cấp ngày 29/12/1999 không có diện tích lối đi qua đất của hộ ông T. Thửa đất của hộ bà C có 1 cạnh phía Tây giáp đường xóm thuộc khu 07, xã X, nên không thuộc trường hợp bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản liền kề, nên không thuộc trường hợp bắt buộc mở lối đi cho hộ bà C.

Diện tích đất hiện đang tranh chấp được gia đình ông T sử dụng ổn định, trồng cây và xây dựng công trình lâu năm trên đất. Gia đình bà C có một cạnh dài giáp đường xóm, bà C tự cho múc đất san phẳng dẫn đến đất thổ cư thấp hơn đường xóm 5 mét dẫn tới không có lối đi là do bà tự định đoạt.

[2]Từ những căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C là phù hợp. Tại phiên tòa hôm nay, bà cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì mới nên không có cơ sở để xem xét. Tuy nhiên bà C muốn thuận lợi cho việc đi lại hơn thì bà pH chủ động thỏa thuận với gia đình ông T hoặc mua lại một phần đất của gia đình ông T để làm lối đi cho thuận tiện.

[3] Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm là phù hợp với pháp luật.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà C kháng cáo không được chấp nhận thì phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 - Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 166; khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 2 Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, 3 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 27; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

+ Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

+ Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M C đối với ông Nguyễn Văn T về việc đòi quyền sử dụng lối đi diện tích 141,2m2 tại thửa đất số 02, tờ bản đồ số 05, ở khu 07, xã X có các cạnh cụ thể như sau:

Phía Tây giáp thửa đất số 602, tờ bản đồ số 04 (cạnh L – M) dài 4 mét;

Phía Đông giáp đường liên xã thuộc khu 07, xã X (cạnh G – E) dài 4 mét;

Phía Nam giáp giáp phần đất thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ số 05 (cạnh L - G) dài 35,3 mét;

Phía Bắc giáp giáp phần đất thuộc thửa đất số 02, tờ bản đồ số 05 (cạnh M - E) dài 35,5 mét;

Xác nhận diện tích 141,2m2 đất hiện đang tranh chấp nằm trong thửa đất số 02, tờ bản đồ số 05, tại khu 07, xã X, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/12/1999 thuộc quyền sử dụng của hộ ông Nguyễn Văn T.

+ Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị M C phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận bà C đã nộp 300.000đ tại biên lai thu tiền số 008409 ngày 15/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K.

+ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

+ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2019/DS-PT ngày 23/04/2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:24/2019/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về