Bản án 24/2019/DS-PT ngày 18/03/2019 về tranh chấp nợ hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 24/2019/DS-PT NGÀY 18/03/2019 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 18 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2019/TLPT-DS ngày 30 tháng 01 năm 2019 về việc tranh chấp nợ hụi. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 56/2018/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 45/2018/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: Ấp MĐ, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Thái N, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: Ấp MĐ, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thùy T, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Ấp MĐ, xã LĐ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

- Người kháng cáo: Bị đơn anh Trần Thái N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ trình bày: Bà làm chủ dây hụi mở ngày 20 tháng 01 năm 2017 (âm lịch), có 23 chưng, mỗi chưng 5.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, chưng hụi này đã mãn vào ngày 20 tháng 10 năm 2018. Bà Trần Thùy T là mẹ ruột anh Trần Thái N tham gia chơi dùm anh N 01 chưng. Anh N hốt hụi vào kỳ thứ 04 (ngày 20 tháng 4 năm 2017 âm lịch) được số tiền 88.570.000 đồng. Anh N đóng hụi chết đến kỳ thứ 16 thì không đóng nữa. Nay bà yêu cầu anh N thanh toán cho bà số tiền của 04 kỳ hụi chết còn nợ từ ngày 25 tháng 4 năm 2018 đến ngày 25 tháng 7 năm 2018 là 20.000.000 đồng và yêu cầu lãi suất phát sinh theo quy định pháp luật. Đối với số tiền hụi của bà Nguyễn Hồng H (bà nội anh N) đã đóng thì bà đã trả lại cho ông nội anh N, còn số tiền nợ bà T thì bà sẽ trả lại nếu bà T có yêu cầu. Tại phiên tòa sơ thẩm bà rút lại yêu cầu về phần lãi suất trên số tiền nợ hụi. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà xác định đối với 03 kỳ hụi chết mà anh N nợ bà từ tháng 8 năm 2018 đến ngày 20 tháng 10 năm 2018 là 15.000.000 đồng thì bà sẽ khởi kiện sau.

Bị đơn anh Trần Thái N trình bày:

Trước đây bà nội anh là bà Nguyễn Hồng H (bà H đã chết) có tham gia dùm anh 01 chưng hụi do bà Huỳnh Thị Đ làm chủ, dây hụi này mở ngày 20 tháng 01 năm 2017 âm lịch, mỗi chưng 5.000.000 đồng, có 23 chưng. Anh tham gia đến kỳ thứ 04 thì hốt được số tiền 88.570.000 đồng. Sau đó anh đóng lại hụi chết đến kỳ thứ 16 thì ngưng đóng đến nay. Anh xác định số tiền anh còn nợ bà Đ 07 kỳ hụi chết là 35.000.000 đồng. Tuy nhiên, anh yêu cầu bà Đ trừ lại số tiền bà Đ còn thiếu mẹ anh là bà T 10.000.000 đồng, nợ bà nội anh 10.000.000 đồng thì anh mới đồng ý thanh toán nợ hụi còn lại cho bà Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thùy T trình bày:

Bà có tham gia 01 chưng hụi trong dây hụi mở ngày 10 tháng 02 năm 2018 âm lịch do bà Đ làm chủ, loại hụi 5.000.000 đồng. Bà đã đóng lại được 02 kỳ hụi chết thì ngưng đóng cho đến nay. Bà yêu cầu bà Đ thanh toán cho bà số tiền hụi bà đã đóng của 02 kỳ là 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà không đồng ý thực hiện thủ tục yêu cầu độc lập. Đối với nợ hụi của anh N thì bà yêu cầu bà Đ phải trừ số tiền hụi bà Đ nợ mẹ chồng bà là bà Hoa 02 chưng hụi thì bà mới đồng ý cho anh N đóng hụi chết cho bà Đ.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm: 56/2018/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ. Buộc anh Trần Thái N có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Thị Đ số tiền 20.000.000 đồng. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất trong giai đoạn thi hành án, Luật Thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 11 tháng 01 năm 2019 bị đơn anh Trần Thái N kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu khấu trừ tiền bà Huỳnh Thị Đ còn nợ tiền hụi của mẹ và bà nội anh, sau khi khấu trừ thì anh chỉ còn nợ bà Đ 15.000.000 đồng, anh đồng ý trả số tiền này cho bà Đ. Trường hợp bà Đ không đồng ý khấu trừ thì anh yêu cầu bà Đ cung cấp chứng cứ để chứng minh anh có nợ tiền hụi của bà Đỉnh. Tại phiên tòa phúc thẩm anh N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Thái N, căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 56/2018/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi nghe ý kiến trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Bà Huỳnh Thị Đ xác định: Bà làm chủ dây hụi mở ngày 20 tháng 01 năm 2017 (âm lịch), có 23 chưng, mỗi chưng 5.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, chưng hụi này mãn vào ngày 20 tháng 10 năm 2018. Anh Trần Thái N thanh gia 01 chưng, trong danh sách hụi bà ghi tên ông Q là cha anh N, nhưng bà Trần Thùy T là mẹ anh N là người thực hiện chơi hụi dùm cho anh N. Đến kỳ khui hụi thứ 04 (ngày 20 tháng 4 năm 2017 âm lịch) thì anh N hốt hụi được số tiền 88.570.000 đồng, bà trực tiếp giao tiền hốt hụi cho anh N. Sau đó, anh N đóng hụi chết đến kỳ thứ 16 thì không đóng nữa, hiện dây hụi này đã mãn vào ngày 20 tháng 10 năm 2018. Nay bà yêu cầu anh N thanh toán cho bà số tiền của 04 kỳ hụi chết còn thiếu từ ngày 25 tháng 4 năm 2018 đến ngày 25 tháng 7 năm 2018 là 20.000.000 đồng và không yêu cầu lãi suất phát sinh. Phía anh Trần Thái N thừa nhận việc anh có tham gia chơi hụi của bà Đ và có nhận số tiền đã hốt hụi theo lời trình bày của bà Đ nêu trên. Tính đến khi mãn hụi thì anh còn nợ lại bà Đ 07 kỳ hụi chết với số tiền là 35.000.000 đồng. Tuy nhiên, người trực tiếp giao dịch hụi với bà Đ là bà nội anh là bà Nguyễn Hồng H chứ không phải mẹ anh. Như vậy có đủ căn cứ xác định giao dịch hụi và số tiền hụi mà anh N còn nợ bà Đ là có xảy ra trên thực tế. Hiện dây hụi đã mãn và anh N còn nợ bà Đ 07 kỳ hụi chết bằng 35.000.000 đồng nhưng bà Đ khởi kiện chỉ yêu cầu anh N trả cho bà 04 kỳ hụi chết bằng 20.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Đ là có cơ sở và đúng quy định pháp luật, cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh N.

[3] Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Trần Thái N, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2018/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Thái N phải chịu theo quy định pháp luật.

[5] Các phần khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị định số 144/2006/CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Thái N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 56/2018/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ về việc yêu cầu anh Trần Thái N trả tiền nợ hụi. Buộc anh Trần Thái N có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị Đ số tiền 20.000.000 đồng.

2. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh Trần Thái N phải chịu 1.000.000 đồng và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu. Bà Huỳnh Thị Đ không phải chịu án phí, bà Huỳnh Thị Đ đã nộp tạm ứng án phí 500.000 đồng theo biên lai số 0011394 ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu được nhận lại 500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Thái N phải chịu 300.000 đồng, anh Trần Thái N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0011923 ngày 11 tháng 01 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


78
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về