Bản án 24/2018/HS-ST ngày 08/08/2018 về tội vận chuyển hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 24/2018/HS-ST NGÀY 08/08/2018 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 08 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng Đ - sinh năm 1994; tại Đức Huệ - Long An; nơi cư trú: Ấp 3, xã Q, huyện Đ, tỉnh A; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Huỳnh Thị O; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự, tiền sự: không; bị cáo Nguyễn Hoàng Đ bị Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Huệ tạm giữ từ ngày 10/5/2018 đến ngày 19/5/2018 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 20/6/2018. Ngày 21/6/2018, Viện kiểm sát ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đ đến ngày 08/7/2018 chờ xử lý; (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hoàng G (C) - Sinh năm 1986 - Địa chỉ: ấp 4, xã Q, huyện Đ, tỉnh A. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên Nguyễn Hoàng Đ và Lê Hoàng G (C) có quen biết với nhau. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/5/2018, G gọi điện thoại bảo Đ vào trong vựa thuốc bên trong Campuchia để vận chuyển thuốc lá về khu vực trường học ấp 3, xã Q với tiền công vận chuyển 50.000 đồng một đai thuốc 60 cây (600 bao thuốc), Đ đồng ý. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ điều khiển xe mô tô, biển số 62U1-028.22 của Đ chở 04 đai (2.400 bao) thuốc lá ngoại hiệu Jet từ biên giới Campuchia về đến địa phận ấp 3, xã Q, huyện Đ, tỉnh A thì bị Công an huyện Đức Huệ và tổ chức chống buôn lậu tại đây bắt quả tang, Đ chưa nhận được 50.000 đồng tiền công vận chuyển. Tại Cơ quan điều tra, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Ngoài ra, tại thời điểm và vị trí nói trên lực lượng chống buôn lậu bắt và quản lý 2.400 gói thuốc lá ngoại hiệu Jet không xác định được chủ sở hữu. Đ cho biết 2.400 bao thuốc lá hiệu Jet bắt cùng thời điểm và gần hiện trường với Đ là của Lê Hoàng G. Quá trình làm việc, G không thừa nhận 2.400 gói thuốc lá ngoại trên là của G và G cũng không thừa nhận thuê Đ vận chuyển thuốc lá bị bắt quả tang ngày 10/5/2018.

Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang tạm giữ những vật chứng sau:

- 4.800 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet;

- 01 (một) xe mô tô loại Wave, màu đỏ, biển số: 62U1-028.22, số máy: VLFPD1P52FMH-330020014, số khung: RPDDCH4PD5A020014 là phương tiện Đ dùng để vận chuyển 2.400 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet khi bị bắt quả tang; Đ khai nhận xe này Đ mua của một người không rõ nhân thân lai lịch, xe không có giấy chứng nhận đăng ký.

- 01 (một) điện thoại hiệu Nokia 3310, màu trắng, số sim: 0933.910.035 của Đ dùng để liên lạc trong việc vận chuyển hàng cấm.

Đối với Lê Hoàng G (C) có hành vi thuê Đ vận chuyển 2.400 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet, do không đủ cở sở chứng minh hành vi phạm tội của G nên Cơ quan điều tra tách ra làm rõ, xử lý sau.

Cáo trạng số: 30/CT-VKS ngày 28 tháng 6 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu giao cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý: 4.800 gói thuốc lá ngoại hiệu Jet;

Đề nghị tịch thu sung công:

- 01 (một) xe mô tô loại Wave, màu đỏ, biển số: 62U1-028.22, số máy: VLFPD1P52FMH-330020014, số khung: RPDDCH4PD5A020014 là phương tiện Đ dùng để vận chuyển hàng cấm, xe không có giấy chứng nhận đăng ký.

- 01 (một) điện thoại hiệu Nokia 3310, màu trắng, số sim: 0933.910.035 của Đ dùng để liên lạc trong việc vận chuyển hàng cấm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan ông Lê Hoàng G (C) không thuê và không biết việc Đ vận chuyển hàng cấm nên không đề cập xem xét trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào ngày 10/05/2018, (khoảng 10 giờ 30 phút) Nguyễn Hoàng Đ dùng xe mô tô loại Wave, màu đỏ, biển số: 62U1-028.22, số máy: VLFPD1P52FMH- 330020014, số khung: RPDDCH4PD5A020014, vận chuyển 2.400 (hai ngàn bốn trăm) bao thuốc lá điếu hiệu Jet sản xuất ở nước ngoài, từ khu vực biên giới Việt Nam Campuchia về ấp 3 (địa danh Chơn tóc) xã Q, huyện Đ không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa về số thuốc lá 2.400 bao cho người khác với tiền công vận chuyển 50.000 đồng. Khi bị cáo Đ vận chuyển số thuốc lá ngoại trên đến ấp 3 (địa danh Chơn tóc) xã Q, huyện Đ thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang người và tang vật.

[2] Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra và quyết định phê chuẩn khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị các cáo điều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên điều thực hiện đúng và hợp pháp.

[3] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hoàng Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đức Huệ lập lúc 20 giờ 30 phút ngày 10/5/2018 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng, bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, cáo trạng số: 30/CT-VKS-ĐH ngày 28 tháng 6 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng Đ là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên từ đó bị cáo nhận lời vận chuyển hàng hóa thuốc lá ngoại không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa từ khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia về ấp 3, xã Q, huyện Đ với số lượng 2.400 bao hiệu Jet, tiền công vận chuyển 50.000 đồng (chưa nhận). Xét thấy, bị cáo Nguyễn Hoàng Đ có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định, chưa có tiền án, tiền sự nên chỉ cẩn phạt tiền cũng đủ sức răng đe và phòng ngừa chung.

[5] Xét thấy bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thật thà khai báo, bản thân là bộ đội xuất ngũ là lao động chính trong gia đình, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểmi, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[6] Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan ông Lê Hoàng G trình bày: Ông không biết việc vận chuyển hàng cấm của bị cáo và ông không thuê bị cáo vận chuyển hàng cấm.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Đ là có cơ sở theo quy định pháp luật.

[8] Về các biện pháp tư pháp, xét thấy: 4.800 gói thuốc lá ngoại hiệu Jet sản xuất ở nước ngoài không chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa, không xác định chủ sở hữu. Theo quy định tại Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018 của Chính phủ thì hiện nay tạm dừng tiêu hủy thuốc lá ngoại nhập lậu theo quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 26/12/2014 nên tịch thu giao cho cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý theo quy định chung.

- 01 (một) xe mô tô loại Wave, màu đỏ, biển số: 62U1-028.22, số máy: VLFPD1P52FMH-330020014, số khung: RPDDCH4PD5A020014 là phương tiện bị cáo dùng vận chuyển thuốc lá không xác định chủ sở hữu nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01( một) điện thoại hiệu Nokia 3310, màu trắng, số sim: 0933.910.035 của bị cáo Đ dùng để liên lạc trong việc vận chuyển hàng cấm nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Tang vật do chi cục thi hành án dân sự đang quản lý

[9] Đối với chủ thuê, người giao nhận thuốc cho bị cáo, không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát tiếp tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp. Nhằm bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo qui định của pháp luật.

[10] Bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, 37, 47 của Bộ luật hình sự; Các Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 260, Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miển, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).

4. Về các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu giao cho cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý theo qui định: 4.800 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet do nước ngoài sản xuất.

- Tịch thu sung công:

+ 01(một) xe mô tô loại Wave, màu đỏ, biển số: 62U1-028.22, số máy: VLFPD1P52FMH-330020014, số khung: RPDDCH4PD5A020014.

+ 01 (một) điện thoại hiệu Nokia 3310, màu trắng, số sim: 0933.910.035.

Tang vật do chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.

6. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 08/8/2018).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


145
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về