Bản án 24/2018/HS-PT ngày 22/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 24/2018/HS-PT NGÀY 22/05/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2018/TLPT – HS ngày 13 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Hoàng Đình K do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HS-ST ngày 08 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Đình K, sinh năm 1998; Trú tại: xóm 9, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình H, sinh năm 1947 và bà Lê Thị V, sinh năm 1952; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2017; hiện tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

Trong vụ án này còn có người bị hại chị Nguyễn Thị L do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng  Đình  K  hiện  đang  trọ  tại  thôn  T,  xã  Y,  huyện  Y,  tối  ngày 21/10/2017, K đi bộ lang thang từ thôn T sang thôn Y, xã Y mục đích xem có ai sơ hở để trộm cắp xe mô tô. Khoảng hơn 22h  cùng ngày, K đi bộ qua khu nhà trọ của bà Trịnh Thị L1 ở thôn Y thấy không đóng cổng, trong sân có dựng nhiều xe mô tô nên K đi vào một phòng trọ không có người ở tầng 1 để chờ cơ hội thuận tiện trộm cắp xe mô tô. Đến 01h ngày 22/10/2017, khi mọi người trong khu trọ đã ngủ, K đi đến vị trí dựng chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, BKS: 36L1 của chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1997, quê quán: thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa đang thuê trọ nhà bà Trịnh Thị L1. K kiểm tra thấy xe không khóa cổ, khóa càng nên đã dắt chiếc xe ra cổng khu nhà trọ. Do cổng khóa, K dựng xe, đi vào phòng ngủ của bà L1 gọi bà L1 dậy mở cửa. Bà L1 hỏi “Ai đấy? Mày vào nhà tao làm gì?”, K nói “Cháu chơi với bạn ở tầng 3, cháu có bạn bị tai nạn cô mở cổng cho cháu ra cứu bạn”. Tin lời K bà L1 mở cửa cổng, K dắt xe vừa trộm cắp về thôn T và vào quán internet của anh Vũ Văn Th1 ở thôn T chơi điện tử.

Khoảng 06h20’ ngày 22/10/2017, K để chiếc xe mô tô vừa trộm cắp lại quán internet và đi bộ về phòng trọ của K để mượn điện thoại của anh ruột là Hoàng Đình Kh sử dụng vì điện thoại của K hết tiền. Lúc này anh Kh vẫn đang ngủ nên K cầm chiếc điện thoại Oppo màu trắng bên trong có sim số thuê bao 0964.712 của anh Kh và quay lại quán internet. K dắt xe mô tô đã trộm cắp được đi tìm quán sửa xe để mở khóa điện. Đến cửa hàng xe máy Đ ở thôn T, xã Y do anh Trần Văn Th làm chủ. K lấy điện thoại gọi vào số điện thoại của anh Th ghi trên biển hiệu cửa hàng và bảo anh Th đến sửa xe. Khoảng 07h20’ cùng ngày, anh Th đến cửa hàng, K bảo anh Th mở hộ khóa từ và đấu điện nổ máy. Anh Th hỏi thì K trả lời: “Khóa điện thằng em cầm đi làm ở Bắc Giang, tối mới về, anh mở giúp em để em đi Hà Nội có việc”. Nghe vậy anh Th đồng ý. Trong lúc anh Th sửa xe thì K lấy cờ lê trong cửa hàng tháo chiếc biển kiểm soát ra. K bảo anh Th mở hộ cốp xe thì anh Th nói khóa cốp khó mở. Sửa xong, K nói để lại xe về lấy tiền trả anh Th. K cầm theo chiếc biển kiểm soát 36L1 đi bộ về phòng trọ, khi đi qua vũng nước thuộc thôn T thì K ném chiếc BKS xuống vũng nước và đi về phòng trọ.

Khoảng 09h ngày 23/10/2017, K quay lại cửa hàng của anh Th để lấy xe mô tô trộm cắp thì đúng lúc này chị Nguyễn Thị L và mẹ là bà Bùi Thị A đang đi qua thấy trong cửa hàng có dựng xe mô tô Yamaha Exciter đặc điểm giống chiếc xe bị mất nên chị L đi vào cửa hàng hỏi anh Th có bán bộ tem xe máy nào giống thế này không. Anh Th nói chỉ sửa xe và không có bộ tem nào. Bà A hỏi “Ai sửa xe này? Cô vừa mất một chiếc xe giống chiếc xe này”. Nghe thấy vậy K hoảng sợ bỏ đi khỏi cửa hàng.

Chị L gọi điện thoại cho anh Trương Quang Đ là bạn trai và là chủ xe mô tô mang giấy tờ xe đến kiểm tra đúng là xe đã bị mất nên trình báo công an.

Ngày 07/11/2017, K đến đồn công an Khu công nghiệp Yên Phong đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của K.

Tại Kết luận định giá tài sản số 78 ngày 02/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản – UBND huyện Yên Phong kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter 150 màu đen, có số máy G3D4E480326, số khung 0610HY459210, xe đã qua sử dụng, có giá trị còn lại tại thời điểm định giá là 42.000.000đồng (Bốn mươi hai triệu đồng).

Chiếc biển số xe 36L1, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy. Đối với chiếc xe mô tô do K chiếm đoạt, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trương Quang Đ.

Với nội dung trên, bản án số 23/2018/HS-ST ngày 08 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố bị cáo Hoàng Đình K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt: Bị cáo Hoàng Đình K 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2017.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/3/2018, bị cáo Hoàng Đình K kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Đình K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo K, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo K không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Đình K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01h  ngày 22/10/2017 tại sân nhà bà Trịnh Thị L1 ở thôn Y, xã Y, huyện Y,

Hoàng Đình K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, BKS: 36L1 trị giá 42.000.000đ của chị Nguyễn Thị L ở trọ tại nhà bà Trịnh Thị L1. Do vậy Bản án sơ thẩm xét xử Bị cáo K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của cá nhân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Hành vi đó phải bị xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của Bị cáo K, HĐXX thấy rằng: Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt 18 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa hôm nay, K không đưa ra được lý do nào mới để HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần bác kháng cáo của Bị cáo K, giữ nguyên án sơ thẩm.

Bị cáo K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt: Hoàng Đình K 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2017.

Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng Đình K 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bị cáo K phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


92
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 24/2018/HS-PT ngày 22/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:24/2018/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Ninh
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:22/05/2018
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về