Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 24/12/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 24/2018/HNGĐ-ST NGÀY 24/12/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 24 tháng 12 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:71/2018/TLST-HNGĐ ngày 23/5/2018 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, năm sinh 1986. (có mặt)

Địa chỉ: Tổ S, khu phố M, phường T, thành phố H, Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1984. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ S, khu phố M, phường T, thành phố H, Kiên Giang.

Chỗ ở: Tổ B, khu phố B, phường T, thành phố H, Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 5 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh B tự nguyện yêu thương nhau và kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Kiên Giang vào ngày 28/3/2007. Trong cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc, sau này vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng ý kiến về kinh tế, vợ chồng thường xuyên cải nhau về chuyện tiền bạc, ông B không có trách nhiệm với vợ con, ông bà không còn sống chung cùng nhau hơn một năm nay. Hiện nay không thể hàn gắn để đoàn tụ về chung sống với nhau và nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông B.

Về con chung: Quá trình chung sống có một con chung tên Nguyễn Hoàng L P, giới tính nữ, sinh ngày 12/7/2015. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án của thẩm phán, hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H: Về quan hệ hôn nhân: áp dụng Điều 19, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận cho bà T ly hôn với ông B. Về con chung: Áp dụng khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận việc không yêu cầu cấp dưỡng của bà T. Về phần tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung: không có nên không yêu cầu xem xét. Hội đồng xét xử ghi nhận tất cả ý kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Nguyễn Thanh B đang cư trú tại phường T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trong thời gian thụ lý giải quyết, ông Nguyễn Thanh B đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhiều lần mà ông B đều vắng mặt, ngày 12/11/2018 Tòa án tiến hành lập biên bản phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ và ghi nhận ý kiến của bà T, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông B. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vào ngày 28/11/2018 nhưng bị đơn là ông B vắng mặt lần thứ nhất không lý do nên phiên tòa phải hoãn và ấn định xét xử lại vào ngày hôm nay là ngày 24/12/2018 theo quyết định hoãn phiên Tòa số 41/2018/QĐST-HNGĐ ngày 28/11/2018, ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên Tòa lần 2 nhưng vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Thanh B kết hôn năm 2007, hôn nhân do ông bà tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H(nay là thành phố H), tỉnh  Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày28/3/2007. Như vậy hôn nhân  của ông bà là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình thụ lý giải quyết và tại Phiên Tòa hôm nay bà T vẫn giữ nguyênnội dung đơn khởi kiện là xin ly hôn, ông B đã được  Tòa án thông báo thụ lý, triệu tập ghi nhận ý kiến và hòa giải nhiều lần, nhưng ông B đều vắng mặt. Xét thấy hôn nhân của bà T, ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2017 nên vợ chồng không hạnh phúc, bà T đã về nhà cha mẹ tại tổ S, khu phố M, phường T sinh sống từ tháng 02/2017, ông B vẫn còn sinh sống tại tổ B, khu phố B, phường T, từ đó cho đến nay ông bà không còn sống chung, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống, mỗi người có cuộc sống riêng. Qua xác minh của Tòa án tại khu phố M, phường T cho thấy bà T, ông B có đăng ký thường trú và sinh sống tại địa phương, hiện nay bà T vẫn sinh sống tại tổ S, khu phố M, phường T, phía ông B địa phương không biết đi đâu không rõ. Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Qua trình bày của nguyên đơn và kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương cho thấy bà T, ông B không còn chung sống một thời gian dài và hiện nay không có biện pháp khắc phục để chung sống mang lại hạnh phúc lâu dài. Vợ chồng không còn yêu thương chăm sóc nhau, không ai quan tâm ai, mỗi người có cuộc sống riêng là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng, hôn nhân của bà T, ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nghị cần chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông B.

[4] Về con chung: Ông bà có một con chung tên Nguyễn Hoàng L P, giới tính nữ, sinh ngày 12/07/2015, hiện nay con đang sống cùng bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành. Xét thấy cháu P từ nhỏ do bà T nuôi dưỡng, chăm sóc, hiện nay con cũng đang do bà T nuôi dưỡng, cháu P đã thích nghi với môi trường sống cùng bà T nên việc bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu P là tạo điều kiện cho cháu phát triển về mọi mặt. Áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nghị cần giao con chung cho bà T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận ý kiến bà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

[5] Về tài sản và nợ chung: Bà T trình bày tự thỏa thuận về tài sản chung, không có nợ chung, ông B thì không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bà T khởi kiện nên phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 28, 35, 39, 147, khoản2 Điều 227, Điều 228 Bộ  luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016  của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Thanh B.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng L P, giới tính nữ, sinh ngày 12/07/2015 cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận ý kiến bà T không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Bà Nguyễn Thị T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Thanh B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật

- Tài sản và nợ chung: Bà T trình bày tự thỏa thuận về tài sản chung, không có nợ chung, ông B thì không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), đối trừ tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí số 0001057 ngày 23 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã H (nay là Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố H), nay bà T không phải nộp thêm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


103
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 24/12/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:24/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/12/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về