Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 18/04/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 24/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/04/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 18 tháng 4 năm 2018. Tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 336/2017/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 10 năm 2017 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Yến Nh, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Số 17/18/2 đường Nguyễn Văn Kiến, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.(Có mặt tại phiên tòa)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Số 51/5/10 đường Mạc Đỉnh Chi, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, nguyên đơn bà Bùi Thị Yến Nh trình bày:

Trước đây bà Nh và ông Đ tự tìm hiểu nhau khoảng hơn 02 năm sau đó tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Vĩnh Thanh vào ngày 07/8/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại số 51/5/10 đường Mạc Đỉnh Chi, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cho đến tháng 03/2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân cho đến nay.

Lý do xin ly hôn: Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng rất hạnh phúc. Tuy Nhên, thời gian gần đây do ông Đ nghe lời bạn bè rủ rê nên dùng ma túy đá và thường xuyên cờ bạc, không lo làm ăn, không chăm lo cho vợ con. Ngoài ra, có Nhều lần sau khi sử dụng ma túy, ông Đ còn hăm dọa sẽ giết bà Nh cùng 02 người con. Bà Nh và gia đình đã khuyên nhủ Nhều lần nhưng ông Đ không thay đổi. Nay thấy rằng bà và ông Đ không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống và xây dựng gia đình hạnh phúc, nên bà Nh yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà Nh xác nhận vợ chồng chung sống có 02 người con chung tên Nguyễn Gia Huy-sinh ngày 22/11/2011và Nguyễn Gia Bảo-sinh ngày19/12/2015, hiện đang sống chung với mẹ. Bà Nh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nh xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà Nh giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện

* Tòa án có triệu tập ông Nguyễn Văn Đ để hòa giải hôn nhân và gia đình, nhưng ông Đ vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.

Xét thấy, ông Đ chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nh tại Tòa án. Tuy Nhên, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Thông báo thụ lý; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa... hợp lệ, nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không đến Tòa án. Căn cứ khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Đ không có sự phản đối nào đối với yêu cầu của nguyên đơn cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sợ vụ án để xem xét giải quyết.

[2] Về nội dung: Bà Nh xác nhận trước đây bà và ông Đ tự tìm hiểu nhau khoảng hơn 02 năm sau đó tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Vĩnh Thanh vào ngày 07/8/2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nh, xét thấy: Vợ chồng bà Nh, ông Đ không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng xây dựng mái ấm gia đình bền vững và hạnh phúc, xuất phát từ việc tính tình đôi bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bà Nh xác nhận nguyên nhân là do thời gian gần đây ông Đ nghe lời bạn bè rủ rê dùng ma túy đá, thường xuyên cờ bạc và không lo làm ăn, không chăm lo cho vợ con. Ngoài ra, có Nhều lần sau khi sử dụng ma túy, ông Đ còn hăm dọa sẽ giết bà Nh cùng 02 người con. Bà Nh và gia đình đã khuyên nhủ Nhều lần nhưng ông Đ không thay đổi. Tại phiên tòa, bà Nh thể hiện rõ quan điểm muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nh, ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà Nh đối với ông Đ.

[3] Về con chung: Bà Nh xác nhận vợ chồng chung sống có 02 người con chung tên Nguyễn Gia Huy- sinh ngày 22/11/2011 và Nguyễn Gia Bảo- sinh ngày 19/12/2015, hiện đang sống chung với mẹ. Bà Nh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Huy và cháu Bảo từ nhỏ đã sống cùng mẹ nên việc giao cháu Huy và cháu Bảo cho bà Nh trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo ổn định về mặt tinh thần của bé, hơn nữa hiện nay cháu Bảo dưới 36 tháng tuổi nên việc sống cùng mẹ cũng phù hợp theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 con chung tên Nguyễn Gia Huy- sinh ngày 22/11/2011 và Nguyễn Gia Bảo- sinh ngày 19/12/2015 cho bà Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Do bà Nh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Bà Nh xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông Đ có tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

[5] Về nợ chung: Bà Nh xác nhận không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Yến Nh được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Gia Huy- sinh ngày 22/11/2011 và Nguyễn Gia Bảo- sinh ngày 19/12/2015 cho bà Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Do bà Nh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Đ được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản ông Đ thực hiện các quyền trên.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nh xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng bà Nh đã tạm nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009443, ngày 11/9/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, bà Nh đã nộp xong án phí sơ thẩm và không phải nộp thêm.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Đ vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày ông Đ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 18/04/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:24/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về