Bản án 24/2017/DS-PT ngày 23/08/2017 về tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 24/2017/DS-PT NGÀY 23/08/2017 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 

Ngày 23/8/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn la, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/TLPT-DS ngày 21/7/2017, về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Do bản án số: 41/2017/DS-ST ngày 19/6/2017 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2017/QĐPT-DS ngày 25/7/2017 giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Anh Giàng Minh D , sinh năm 2001. Có mặt.

- Ngươi đai diện hợp pháp: Ông Giàng A K , sinh năm 1979. Có mặt.

Đều trú tại : Sô nha A, tổ X, phường Quyết Thăng , thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Bị đơn: Anh Cao Mạnh H1, sinh năm 2001. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp: Bà Vũ Thị Ngọc H 2, sinh năm 1982. Có mặt. Đều trú tại : Sô nha B, tổ X, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Người kháng cáo: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Giàng A K, bị đơn anh Cao Mạnh H1, người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Vũ Thị Ngọc H2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn anh Giàng Minh D, đại diện theo pháp luật ông Giàng A K trình bày:

Ngày 22/10/2016, anh Giàng Minh D điều khiển xe đạp đèo một người tên Tạ Hải Hưng ngồi sau đi đến đoạn cây đa bản Hẹo thuộc khu vực Tổ 01, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La thì có Cao Mạnh H1 điều khiển xe máy biển số 26-AA 001.00 đèo Nguyễn Hải Nam bạn cùng trường đi vượt từ phía sau lên đâm vào tay lái bên trái của anh D làm anh D bị ngã chấn thương. Ngày 25/10/2016, ông K phải đưa anh D đi khám tại Phòng khám cuộc sống; Ngày 31/10/2016 đưa đi khám ở Phòng khám Tâm Đức để hút máu tụ dịch trong đầu gối và phải chuyển vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La. Kết quả chuẩn đoán của bác sĩ: anh D bị chấn thương đầu gối trái, đứt dây chằng chéo sau, rách sụn chêm trong. Anh D đã phải thực hiện phẫu thuật đầu gối từ ngày 12/11/2016 đến ngày 18/11/2016 thì được ra viện. Sau đó, anh D phải điều trị phục hồi chức năng 6 tháng tiếp theo.

Sức khỏe của anh D hiện nay vẫn chưa phục hồi hoàn toàn và đang điều trị phục hồi chức năng. Đến nay, nguyên đơn anh D và người đại diện hợp pháp ông K đề nghị buộc bị đơn anh H và người đại diện hợp pháp bà H2 phải bồi thường cho phía nguyên đơn các khoản chi phí sau:

- Khám ở phòng khám Tâm Đức (ngày 31/10/2016): chọc hút dịch khớp gối 400.000,đ; siêu âm khớp gối 80.000,đ; khám 40.000,đ; mua thuốc theo hóa đơn 900.000,đ. Tổng là 1.420.000,đ.

- Vào viện đa khoa tỉnh Sơn La mổ (từ ngày 04/11/2016): chi phí cho bác sỹ Việt Đức lên mổ 10.000.000,đ; Viện phí 5.467.000,đ; mua nạng 500.000,đ; mua vật tư mổ 500.000,đ; xét nghiệm 180.000,đ; mua thuốc theo hóa đơn 700.000,đ. Tổng là 17.347.000,đ.

- Các khoản chi tiêu nằm viện từ ngày 04/11 – 18/11/2016 và công chăm sóc:

+ Công 01 người chăm sóc 15 ngày nằm viện x 200.000,đ = 3.000.000,đ.

+ Tiền ăn (người bệnh + người trông): 02 người x 15 ngày x 150.000,đ =4.500.000,đ.

+ Tiền công ngày mổ 02 người x 200.000,đ = 400.000,đ.

+ Tiền ăn 02 người trông trong ngày mổ: 02 người x 150.000,đ =300.000,đ.

+ Tiền công người chăm sóc tại gia đình từ khi bị tai nạn ngày 22/10/2016 đến 30/12/2016 là 71 ngày – 15 ngày = 56 ngày x 100.000,đ/ngày = 5.600.000,đ.

Tổng là 13.800.000,đ.

- Các khoản thuê xe đi lại:

+ Sáng 26/10/2016 thuê taxi đưa bệnh nhân đi khám tại bệnh viện đa khoatỉnh: 50.000,đ x 02 lượt = 100.000,đ.

+ Ngày 31/10/2016 thuê taxi đi khám ở phòng khám Tâm Đức: 500.000,đ x 02 lượt = 100.000,đ.

+ Ngày 07/11/2016 vào viện và ra viện ngày 18/11/2016: 50.000,đ x 02 lượt = 100.000,đ.

+ Thuê xe ôm cho người bị hại đi học từ ngày 24/10/2016 đến 30/12/2016, tổng là 44 ngày (do đang trong thời gian nẹp cố định chân, không tự đi xe đạp được; trừ 15 ngày mổ, có giấy biên nhận kèm theo): 44 ngày x60.000,đ x 02 lượt/ngày = 2.640.000,đ.

Tổng là 2.940.000,đ.

- Tiền bồi thường tổn thất về sức khỏe và tinh thần: 12 tháng lương tối thiểu x 1.210.000,đ = 14.520.000,đ.Phía nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn bồi thường tổng số tiền là:50.027.000,đ (Năm mươi triệu không trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

Trong bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn anh Cao Mạnh H1, người đại diện hợp pháp bà Vũ Thị Ngọc H2 trình bày:

Ngày 22/10/2016, anh Cao Mạnh H1 và Giàng Minh D trên đường đi học về có va chạm nhau khiến cả hai cháu đều bị ngã, nhưng D bị nặng hơn thì gia đình anh H1 đã đưa anh D đi khám 2 lần. Bà H2, anh H1 nhất trí với nội dung sự việc theo phần trình bày của nguyên đơn và thương tích của anh D theo kết luận của bác sĩ. Ngày 07/11/2016 anh D mổ, gia đình bà H2 đã đến và hỗ trợ số tiền 3.000.000,đ.

Đến nay bị đơn anh H1 và người đại diện hợp pháp bà H2 chỉ nhất trí hỗ trợ những khoản chi phí có hóa đơn có dấu đỏ như sau:

1. Khám ở phòng khám cuộc sống: mua nẹp 400.000,đ; mua thuốc300.000,đ. Tổng là 700.000,đ (gia đình bị đơn đã trả nên không thanh toán nữa).

2. Khám ở bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La: khám 393.500,đ; sau khám bồi dưỡng 1.900.000,đ. Tổng là 2.293.500,đ (gia đình bị đơn đã trả nên không thanh toán nữa).

3. Khám ở phòng khám Tâm Đức: chọc hút dịch khớp gối 400.000,đ; siêu âm 80.000,đ; khám 40.000,đ; mua thuốc 900.000,đ. Tổng là 1.420.000,đ.

4. Vào viện đa khoa mổ: ngày anh D mổ gia đình bị đơn cũng lên và thống nhất sẽ hỗ trợ 10.000.000,đ nhưng ông K không đồng ý và yêu cầu phải trả hết số tiền là 20.000.000,đ. Bà H2 không có để trả nên chỉ hỗ trợ những chi phí có hóa đơn: viện phí 5.467.000,đ; mua nạng 500.000,đ; mua vật tư mổ 500.000,đ; xét nghiệm 180.000,đ; mua thuốc 700.000,đ. Tổng là 7.347.000,đ.

5. Nhất trí hỗ trợ thêm cho gia đình nguyên đơn 1.233.000,đ.

Tổng cộng phía bị đơn nhất trí hỗ trợ cho phía nguyên đơn số tiền:1.420.000,đ + 7.347.000,đ + 1.233.000,đ = 10.000.000,đ (Mười triệu đồng).

Tại bản án sơ thẩm số 41/2017/DS-ST, ngày: 19/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, đã Quyết định

Căn cứ vào điều 604, điều 605, điều 606, điều 608, điều 609 Bộ luật dân sự 2005; khoản 1 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm d khoản 1 điều 12, khoản 4, khoản 9 điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cháu Giàng Minh D và người đại diện theo pháp luật ông Giàng A K:

Buộc anh Cao Mạnh H1 và người đại diện theo pháp luật bà Vũ Thị Ngọc H2 phải bồi thường cho người bị thiệt hại anh Giàng Minh D số tiền 25.927.000,đ (Hai mươi lăm triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn anh Giàng Minh D và người đại diện hợp pháp ông Giàng A K về việc yêu cầu bị đơn anh Cao Mạnh H1 và người đại diện hợp pháp bà Vũ Thị Ngọc H2 phải bồi thường số tiền còn lại là 24.100.000,đ (Hai mươi tư triệu một trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 30/6/2017 đại diện hợp pháp người bị hai Giàng Minh D là ông Giàng A K kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, về phần không được Tòa chấp nhận, đề nghị được bồi thường là 50.027.000đ. Ngày 30/6/2017 bị đơn Cao Minh H1 và người đại diện hợp pháp của bị đơn Cao Mạnh H1 bà Vũ Thị Ngọc H2 kháng cáo một phần bản án về mức bồi thường 25.927.000,đ là quá cao so với thực tế, chỉ nhất trí bồi thường 10.000.000,đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bên đều giữ nguyên quan điểm kháng cáo.

* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Anh Cao Minh H1 đi xe máy va chạm vào xe đạp của Giàng Minh D, dẫn đến anh D phải đi bệnh viện điều trị. Gia đình anh D yêu cầu anh Hoàng bồi thường tiền thuốc men, tiền công chăm sóc, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm. Tòa sơ thẩm xác định vụ án đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là đúng pháp luật. Trong quá trình thực hiện tố tụng của Tòa phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Về quan điểm vụ án: Gia đình anh D yêu cầu bồi thường tiền thuốc men, tiền công chăm sóc, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm, tổng cộng là 50.027.000đ. Tuy nhiên, gia đình chỉ cung cấp được tài liệu, chứng từ và tiền bù đắp tổn thất tinh thần, tổng là 25.927.000,đ. Còn những chi phí khác không có tài liệu, hóa đơn, chứng từ. Do đó, không có căn cứ chấp nhận. Đối với các khoản chi phí mà gia đình nguyên đơn kê khai có hóa đơn, chứng từ, hợp lý, cần buộc gia đình bị đơn anh Cao Minh H1 phải bồi thường là 25.927.000,đ. Do đó, chỉ chấp nhận về hình thức, không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị giữ nguyên bản án sở thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Anh Giàng Minh D, sinh năm 2001 điều khiển xe đạp đèo Tạ Hải Hưng thì bị anh Cao Mạnh H1, sinh năm 2001 điều khiển xe máy Cub đèo Nguyễn Hải Nam từ phía sau vượt lên va vào tay lái xe của Giang Minh D đang điều khiển, khiến cho D và Hưng ngã xuống, D bị thương tích. (H1, Nam, Hưng không không bị thương tích). Gia đình D yêu cầu H1 bồi thường chi phí viện phí, tiền thuốc, tổn hại sức khỏe, công chăm sóc. Tòa án sơ thẩm xác định vụ án yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc người đại diện hợp pháp bà Vũ Thị Ngọc H2 phải bồi thường các khoản sau:

- Các chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại (nguyên đơn và bị đơn đã tự thỏa thuận) là 8.767.000,đ.

- Chi phí thuê người lái xe máy cho người bị thiệt hại anh Giàng Minh Dđi học từ ngày 24/10/2016 đến 30/12/2016 là 2.640.000,đ.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm là 14.520.000,đ.

Tổng số tiền là: 8.767.000,đ + 2.640.000,đ + 14.520.000,đ = 25.927.000,đ (Hai mươi lăm triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn đồng).Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy là có căn cứ, cần chấp nhận.

[3] Xét về kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn Giàng A K thấy rằng:

- Đối với số tiền chi phí sinh hoạt trong thời gian điều trị từ ngày 04/11 –18/11/2016 như: Chi phí số tiền đi điều trị chữa bệnh tại bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) mất 10.000.000đ; Công chăm sóc của một người là 3.000.000,đ; tiền công ngày 02 người là 400.000,đ; Tiền ăn của người bệnh + tiền người trông nom người mổ là 4.500.000,đ; Tiền ăn của 02 người trông trong ngày mổ là300.000đ. Nhận thấy, ngoài lời trình bày của đương sự, các chi phí trên bên nguyên đơn không cung cấp được các tài liệu, hóa đơn, chứng từ chứng minh, đo đó không có căn cứ để chấp nhận.

- Đối với tiền công người chăm sóc tại gia đình từ khi bị tai nạn ngày 22/10/2016 đến 30/12/2016 là 71 ngày  - 15 ngày (nằm viện) = 56 ngày x100.000,đ/ngày = 5.600.000,đ.

Căn cứ khoản 1 Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 và Mục II.1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, đây chỉ được coi là chi phí hợp lý phải bồi thường cho người chăm sóc trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên). Do đó, không có căn cứ để chấp nhận.

- Đối với tiền chi phí thuê phương tiện đi lại phục vụ cho việc khám, chữa bệnh và sinh hoạt cần thiết của người gia đình Giàng Minh D, nhận thấy không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, không có căn cứ chấp nhận.

- Đối với tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm: Bị đơn chỉ nhất trí hỗ trợ thêm cho nguyên đơn số tiền 1.233.000,đ. Tuy nhiên, xét yêu cầu bồi thường khoản tiền bù đắp của nguyên đơn là 12 tháng lương tối thiểu x 1.210.000,đ = 14.520.000,đ là hợp lý, cần chấp nhận, căn cứ theo Mục II.1.1,5 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP.

[4] Xét về phần kháng cáo của bị đơn Cao Mạnh H1, người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Vũ Thị Ngọc H2 thấy rằng mức bồi thường 25.927.000đ cao hơn thực tế và chỉ chấp nhận bồi thường là 10.000.000đ. Nhận thấy, ngoài lời khai trình bày ra không có gì chứng minh rằng bên bị hại chỉ mất chi phí viện phí, tiền thuốc và tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000đ. Do đó, không có cơ sở để xem xét chấp nhận.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận kháng của nguyên đơn Cao Mạnh H1, người đại diện theo pháp luật của bị đơn bà Vũ Thị Ngọc H2 và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Giàng A K, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí: Các bên đương sự không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Giàng A K và bị đơn anh Cao Minh H1, người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Vũ Thị Ngọc H2, giữ nguyên bản án sơ thẩm như sau:

Căn cứ vào điều 604, điều 605, điều 606, điều 608, điều 609 Bộ luật dân sự; khoản 1 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm d khoản 1 điều 12, khoản 4, khoản 9 điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Giàng Minh D và người đại diện hợp pháp ông Giàng A K:

Buộc anh Cao Mạnh H1 và người đại diện hợp pháp bà Vũ Thị Ngọc H2 phải bồi thường cho người bị thiệt hại anh Giàng Minh D số tiền 25.927.000,đ (Hai mươi lăm triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn anh Giàng Minh D và người đại diện hợp pháp ông Giàng A K về việc yêu cầu bị đơn anh Cao Mạnh H1 và người đại diện hợp pháp bà Vũ Thị Ngọc H2 phải bồi thường số tiền còn lại là 24.100.000,đ (Hai mươi tư triệu một trăm nghìn đồng).

3. Về án phí: Anh Cao Mạnh H1 và người đại diện hợp pháp bà Vũ Thị Ngọc H2 phải chịu 1.296.350,đ (Một triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn ba trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Giàng Minh D và người đại diện hợp pháp ông Giàng A K không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tạiĐiều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bản dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


162
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về