Bản án 240/2019/HS-PT ngày 20/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 240/2019/HS-PT NGÀY 20/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 221/2019/TLPT-HS ngày 08/7/2019 đối với bị cáo Trương Công Bạch S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 134/2019/HS-ST ngày 04/06/2019 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trương Công Bạch S; Tên gọi khác: C; sinh năm 1989; tại: tỉnh Đắk Lắk; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Đường N, phường T, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Công H và bà Phạm Thị Kim H; bị cáo có vợ là Bùi Thị Ngọc L (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 03/3/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 27/2008/HSPT).

Ngày 25/12/2014,Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 350/2014/HSST). Ngày 20/12/2016, bị cáo chấp hành xong án phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2019, hiện đang tạm giam - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Công Bạch S là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 10h00’ ngày 22/01/2019, S sử dụng điện thoại đi động hiệu Nokia 1202, màu xanh, kèm theo số thuê bao 0888.837.848 gọi cho đối tượng tên B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) qua số điện thoại 0814.321.414 hỏi mua ma túy với mục đích để sử dụng thì Bento đồng ý và hẹn gặp S tại khu vực xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Sau đó, S thuê xe ôm (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi đến điểm hẹn. Tại đây, B bán cho S 04 gói nylon chứa ma túy với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S bắt xe ôm đi về thôn A, xã H, thành phố B cất giấu ma túy trên két sắt của S tại phòng ngủ. Đến khoảng 12h45’ cùng ngày, khi S đang đứng trước khu vực nhà mình thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Buôn Ma Thuột, kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ: 01 gói giấy bạc bên trong có 04 gói nylon đều chứa chất rắn dạng tinh thể, S khai là ma túy đá, đã niêm phong theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số: 88/GĐMT-PC09 ngày 28/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 04 gói nylon thu giữ của Trương Công Bạch S được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại ma tuý Methamphetamine, khối lượng 0,3610 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 134/2019/HS-ST ngày 04/6/2019 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố bị cáo Trương Công Bạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Công Bạch S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt (ngày 22/01/2019).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/6/2019, bị cáo Trương Công Bạch S kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Công Bạch S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nêu.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trương Công Bạch S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trương Bạch Công S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 12h45’ ngày 22/01/2019, tại địa chỉ thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Trương Công Bạch S có hành vi tàng trữ trái phép 0,3610 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trương Công Bạch S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy: Mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc so với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm để giảm cho bị cáo một phần mức hình phạt là phù hợp.

[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Công Bạch S (C), sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 134/2019/HSST ngày 04/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, về hình phạt.

[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Bị cáo Trương Công Bạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Trương Công Bạch S (C) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/01/2019.

[2] Về án phí: Bị cáo Trương Công Bạch S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

167
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 240/2019/HS-PT ngày 20/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:240/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về