Bản án 240/2019/HS-PT ngày 08/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 240/2019/HS-PT NGÀY 08/05/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 724/2018/TLPT-HS ngày 11 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng V.

Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hoàng V, giới tính: nam, sinh năm: 1997 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp A, xã A1, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Nguyễn Hoàng L và bà Nguyễn Thị L1; có vợ: Nguyễn Thị Kim K, con 01 người sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: 1 lần vào ngày 29-5-2015 bị Công A thị xã H xử phạt hành chính 15 triệu đồng về hành vi vận chuyển hàng cấm (thuốc lá) đến nay chưa nộp phạt. Bị tạm giam từ ngày: 02-7-2018 cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng V, có Luật sư Bùi ThAh N thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 00 phút, ngày 02-7-2018, Công A thị xã H kết hợp Công A phường A tiến hành kiểm tra phòng số 106 của Nhà nghỉ P1 thuộc khóm 4, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp phát hiện bắt qua tang Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1997; đăng ký thường trú ấp A, xã A1, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.

Qua khám xét đã thu giữ tài sản, đồ vật gồm:

- 29 bịch ni lon màu trắng có chứa các tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma túy bao gồm: 03 bịch nylon màu trắng, (loại bịch lớn) có nắp kẹp, bên trong có các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp chưa xác định trọng lượng), 07 bịch nylon màu trắng có quấn băng keo màu trắng bên ngoài, bên trong có các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp chưa xác định trọng lượng), 19 bịch nylon màu trắng có kích thước và trọng lượng khác nhau bên trong mỗi bịch có các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp chưa xác định trọng lượng). Tất cả được niêm phong trong phong bì có đóng dấu tròn màu đỏ của “Công A phường A - Công A thị xã H” và các chữ ký ghi họ tên: Lê Văn C, Huỳnh Văn Đ, Nguyễn ThAh H, Nguyễn Hoàng V và Đặng Hoàng N và thu giữ:

- Tiền VNĐ 140.000đồng;

- 01 cân điện tử lưng màu đen, có dòng chữ 1*CR2032 Battery CE;

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;

- 01 quẹt gas bằng nhựa màu đỏ;

- 01 kéo màu trắng có dòng chữ STAINLESS;

- 01 ống nhựa màu xanh sọc trắng được hàn kín một đầu, một đầu cắt nhọn;

- 04 bịch nylon màu trắng (2 bịch có nắp kẹp) không chứa vật gì;

- 03 ĐTDĐ: 01 SAM SUNG màu trắng, phía sau có chữ DUOS đã qua sử dụng; 01 SAM SUNG màu đen đã qua sử dụng; 01 Q.MOBILE màu V1 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong (đã niêm phong).

Kết quả giám định số 460/KL-KTHS ngày 04-7-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Đồng Tháp, kết luận 29 bịch nylon hàn kín, trong đó có 03 bịch nylon dạng nắp kẹp một đầu (loại bịch lớn), 07 bịch nylon hàn kín (bịch nhỏ) có quấn băng keo màu trắng bên ngoài và 19 bịch nylon hàn kín (bịch nhỏ) được niêm phong trong phong bì còn nguyên vẹn, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Công A phường A - Công A thị xã H” và các chữ ký ghi họ tên: Lê Văn C, Huỳnh Văn Đ, Nguyễn ThAh H, Nguyễn Hoàng V và Đặng Hoàng N. Kết luận 29 bịch nylon hàn kín được niêm phong trong phong bì nêu trên gửi đến giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 34,8348 gam, loại Methamphetamine.

Tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì được niêm phong ghi KLGĐ số: 460, ngày 04-7-2018, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công A tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên: Trần Thị Ý N1 và Đoàn Tuấn K1.

Trong quá trình điều tra Nguyễn Hoàng V khai nhận toàn bộ số ma túy thu ở Phòng trọ số 106, nhà nghỉ P1, tại chỗ ở của V vào ngày 02-7-2018 gồm 29 (hai mươi chín) bịch nylon chứa ma túy đá là của V cất giấu để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thị xã H, tỉnh Đồng Tháp. Cụ thể là: Khoảng 11 giờ ngày 29 tháng 6 năm 2018, Nguyễn Hoàng V có đến nhà trọ T2 ở thị xã H để hỏi mua ma túy đá của A (Công A phường A, thị xã H không xác định được đối tượng A có họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) 01 hộp 10 với giá 6.000.000 đồng nhưng A kêu V lấy 04 hộp 10 luôn đi để đó bán từ từ thì V nói với A là không đủ tiền nên A nói với V để đó đi bán được bao nhiêu thì đưa tiền bao nhiêu. V đồng ý lấy 04 bịch ma túy đá với giá 24.000.000đ (hai mươi bốn triệu đồng) nhưng V chỉ trả cho A 3.000.000 đồng và thiếu lại A 21.000.000 đồng. Sau đó V đem về nhà trọ P1 lấy 02 bịch phân ra thành 35 bịch nhỏ và bán cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thị xã H được 08 bịch với số tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng), còn lại 27 bịch nhỏ và 02 bịch lớn thì V đem cất giấu trong nhà vệ sinh cho đến 16 giờ ngày 02-7-2018 thì Công A thị xã H đến kiểm tra phòng trọ 106 nhà nghỉ P1 thì phát hiện và bắt quả tang cùng với tang vật.

Ngoài ra V còn khai nhận: Từ tháng 5-2018 đến ngày bị bắt thì V đã trực tiếp mua ma túy đá của A tổng cộng 08 lần, mỗi lần từ 200.000 đồng cho đến 24.000.000 đồng. Trong 08 lần V mua ma túy của A thì V thừa nhận đã đem về phân chia ra để bán lại cho các đối tượng nghiện và hưởng lợi bất chính 2.500.000 đồng, cụ thể như:

Khoảng cuối tháng 6-2018 đến ngày 02-7-2018 V đã bán ma túy cho Nguyễn Văn D, sinh năm 1987; ngụ ấp B2, xã B3, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp được 04 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần 01: Vào khoảng cuối tháng 6-2018, lúc đó khoảng 16 - 17 giờ, V đang ở nhà thì D điện thoại hỏi V còn không lấy 1 cái 2 (nghĩa là mua 01 bịch ma túy giá 200.000 đồng) thì V đồng ý và hẹn D ở đầu đường hai chiều gần nhà D. Khoảng 15 phU sau thì V chạy xe HONDA, số máy: 00004055, số khung: 004055; biến sổ 67K3-1843 (xe không có giấy tờ hợp pháp) tới thì gặp D đang đứng đợi, lúc này V đi lại thì D đưa cho V 200.000 đồng và V đưa lại cho D 01 bịch ma túy. Đưa xong thì V chạy xe về nhà.

Lần 02: Cách lần 01 khoảng 02 ngày, lúc đó khoảng 9 giờ sáng, V đang ở nhà bên vợ (khóm 1, Phường A) thì D điện thoại cho V nói lấy 1 cái 2 (mua 01 bịch ma túy giá 200.000 đồng) thì V đồng ý và hẹn D ở đầu gần trụ sở khóm 4, phường A, khoảng 5 phU sau thì V chạy xe tới thì gặp D đang đứng đợi, lúc này V đi lại thì D đưa cho V 200.000 đồng và V đưa lại cho D 01 bịch ma túy. Đưa xong V chạy xe về.

Lần 03: Vào ngày 01-7-2018, lúc đó khoảng 14 giờ, V đang ở nhà bên vợ (khóm 1, Phường A) thì D điện thoại cho V hỏi mua l cái 100.000 đồng và lúc này D kêu V đem ma túy vào nhà cho D thì V đồng ý, khoảng 15-20 phU sau thì V chạy xe tới gặp D đang đứng đợi, D mới lấy ra đưa cho V 100.000 đồng và V đưa lại cho D 01 bịch ma túy. Đưa xong V chạy xe về.

Lần 04: Vào khoảng 14 giờ ngày 02-7-2018, V đang ở nhà bên vợ (khóm 1, phường A) thì D điện thoại cho V hỏi mua 1 cái 2 (mua 01 bịch giá 200.000đ) và lúc này D kêu V đem ma túy vào nhà cho D thì V đồng ý khoảng 10 phU sau thì V chạy xe tới gặp D đang đứng đợi, D mới lấy ra đưa cho V 200.000 đồng và V đưa lại cho D 01 bịch ma túy. Đưa xong V chạy xe về.

Khoảng giữa tháng 6-2018 đến ngày 30-6-2018 V bán ma túy cho Phạm Thế H2, sinh năm 1997; ngụ ấp A Phước, xã A , thị xã H, tỉnh Đồng Tháp được 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần 01: Vào khoảng giữa tháng 6-2018, lúc đó khoảng buổi trưa V đang uống cà phê gần chợ M thì H2 điện thoại cho V hỏi chia lại cho H2 1 cái 2 (mua 01 bịch ma túy giá 200.000 đồng). V đồng ý và kêu H2 chạy xe lại gần chợ M đầu đường cầu vượt, khoảng 5-10 phU thì V chạy xe tới gặp H2 đang đứng đợi, V đi lại thì H2 đưa cho V 200.000 đồng và V đưa lại cho H2 01 bịch ma túy. Đưa xong V chạy xe về.

Lần 02: Vào ngày 30-6-2018, lúc đó khoảng 14-15 giờ V đang ở trong Bệnh viện Đa khoa khu vực Hồng Ngự (nuôi con của V đang bị bệnh) thì H2 điện thoại cho V hỏi chia lại cho H2 1 cái 2 (mua 01 bịch ma túy giá 200.000 đồng) và H2 kêu V chạy xuống gần quán cà phê B thuộc ấp A , xã A . V đồng ý khoảng 10-15 phU thì V chạy xe tới gặp H2 đang đứng đợi, V đi lại thì H2 đưa cho V 200.000 đồng và V đưa lại cho H2 01 bịch ma túy, H2 rủ V ở lại cùng sử dụng ma túy, V đồng ý nên cùng H2 sử dựng ma túy gần quán cà phê B. Khi sử dụng xong V chạy xe đi về.

Khoảng đầu tháng 6-2018 dến ngày 01-7-2018 V đã bán ma túy cho Hồ Thanh V1, sinh năm: 1997; ngụ khóm S, Phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp được 03 lần, hai lần đầu thì V bán mỗi lần là 200.000 đồng nhưng lần 03 V1 cầm điện thoại di động hiệu SAMSUNG trị giá 500.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần 01: Vào khoảng đầu tháng 6-2018, lúc đó khoảng 10 giờ, V chạy xe đến nhà của V1 để sửa xe, khi gặp V1 thì V1 hỏi còn không lấy cho V1 1 cái 2 (mua 01 bịch ma túy giá 200.000 đồng). V trả lời là còn và lấy ra 01 bịch ma túy đưa cho V1 nhưng không lấy tiền vì V bỏ xe lại cho V1 sửa. Đưa ma túy xong thì V đi chơi đến khoảng 18-19 giờ cùng ngày thì V quay lại để lấy xe. Lúc này V1 nói tiền sửa xe là 280.000 đồng thì V mới lấy ra 80.000 đồng đưa cho V1, còn 200.000 đồng V trừ vào số tiền V1 mua ma túy lúc sáng. Sau đó thì V lấy xe đi về.

Lần 02: Vào ngày 26-6-2018, lúc đó khoảng 15 giờ, V đang ở nhà bên vợ (khóm 1, Phường A) thì V1 điện thoại cho V nói lấy 1 cái 2 (mua 01 bịch ma túy giá 200.000 đồng) thì V đồng ý và kêu V1 chạy lại dưới dạ cầu S thuộc phường A nhưng khi V đến thì không gặp V1 nên V đứng đợi khoảng 10 phU sau thì V1 chạy xe tới và đưa cho V 200.000 đồng V đưa lại cho V1 01 bịch ma túy được đựng trong gói thuốc lá hiệu HERO. Đưa xong V chạy xe về.

Lần 03: Vào ngày 01-7-2018, lúc đó khoảng 2 giờ sáng. V đang ở nhà nghỉ P1 thuộc khóm 4, Phường A thì V1 điện thoại cho V nói là V1 không có tiền nhưng có cái điện thoại đổi ma túy được không, V mới nói điện thoại gì thì V1 nói là điện thoại cảm ứng hiệu SAMSUNG màu trắng trị giá 500.000 đồng đổi ma túy được không thì V đồng ý và hẹn V1 ở ngã tư đèn xanh, đèn đỏ. Nhưng V không đến nên khoảng 10 phU sau thì V1 điện thoại cho V, V mới hẹn V1 trước cửa quán cà phê Tre V1 thuộc phường A. Khi V1 chạy xe đến thì gặp V đang đứng đợi, V mới hỏi V1 điện thoại đâu thì V1 lấy ra chiếc điện thoại như trên đưa cho V và V đưa lại cho V1 01 bị ma túy được bỏ vào trong gói thuốc lá hiệu JET. Đưa xong V chạy xe về nhà vợ khóm 4, phường A và cất giấu chiếc điện thoại của V1 vào trong tủ quần áo.

Qua làm việc các nhân chứng Nguyễn Văn D, Phạm Thế H2 và Hồ Thanh V1 đều đã thừa nhận nhiều lần trực tiếp mua ma túy của Nguyễn Hoàng V về để sử dụng, phù hợp với lời nhận tội của Nguyễn Hoàng V.

Tại cơ qua điều tra V khai nhận đã trực tiếp bán ma túy cho Trần Văn U 02 lần. Nhưng qua làm việc U không thừa nhận việc mua ma túy của V, qua xác minh thì hiện nay U không có mặt tại địa phương nên cơ qua điều tra không làm việc được với U để đối chất làm rõ việc mua ma túy của V.

Nguyễn Hoàng V khai đã mua ma túy của người đàn ông tên A ở Phường A, thị xã H nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Nên Cơ qua điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ người tên A được.

Trong quá trình điều tra vợ của V là Nguyễn Thị Kim K đến Cơ qua CSĐT Công A tỉnh Đồng Tháp giao nộp: 01 điện thoại SAMSUNG màu trắng đã qua sử đụng là chiếc điện thoại của V1 đưa cho V để đổi lấy ma túy và số tiền 2.500.000 đồng, để khắc phục H2 quả tiền thu lợi bất chính của V.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu HONDA màu xanh, số máy: 00004055, số khung: 004055, mAg biển kiểm soát 67K3-1843, không có giấy đăng ký xe, biển kiểm soát không hợp lệ. Biển số 67K3-1843 qua tra cứu là biển sổ của chủ xe tên Nguyễn Bảo C1 địa chỉ 168 đường 1/5 thị trấn T1, thị xã T2, tỉnh A, (có số máy: HC09E0044784; số máy Y044667) nhưng hiện nay không biết chị C đang ở đâu và ở địa phương thời gian qua không ai mất xe nêu trên. V khai mua của một người tên Nu không biết địa chỉ cụ thể với giá 2.000.000 đồng. Ngày 14-8-2018 và ngày 21-8-2018 Cơ qua điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu, nếu quá thời gian quy định không ai đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hoàng V thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai nhân chứng, kết quả khám xét, thu giữ vật chứng, kết quả giám định và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 18-9-2018 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng V, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HS-ST ngày 31-10-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02-7-2018.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 02-11-2018, bị cáo Nguyễn Hoàng V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Nguyễn Hoàng V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng bị cáo không xin giảm nhẹ hình phạt mà bị cáo kháng cáo kêu oan cho rằng bị cáo không phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về nội dung: Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phân tích về tính chất mức độ hành vi phạm tội và xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Hoàng V, Vị kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Hoàng V. Giữ nguyên quyết định bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Luật sư bào chữa bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng V có ý kiến: bị cáo V thay đổi kháng cáo kêu oan là có căn cứ. Vị luật sư cho rằng số lượng ma túy thu giữ tại phòng trọ của V ở là của A. Án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng khi không triệu tập các nhân chứng như ông D, ông H2, ông A để đối chất làm rõ. Vị Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Giao hồ sơ vụ án về sơ thẩm để điều tra giải quyết lại cho đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra vị Luật sư còn đưa ra các tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo đã có 03 tình tiết giảm nhẹ, do đó vị luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, vị Luật sư.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng V trong hạn luật định, và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Hoàng V không thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung án sơ thẩm đã nêu, bị cáo V thay đổi kháng cáo kêu oan về nội dung vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo Nguyễn Hoàng V có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thừa nhận, các lời khai này là phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Hoàng V có hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Hoàng V khai chính bị cáo đã mua bán ma túy bị bắt quả tang vào ngày 02-7-2018 qua kết quả giám định có tổng khối lượng 34,8348 gam ma túy loại Methamphetamine. Do Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng V, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng V là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến các chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự A toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng do ý thức xem thường bất chấp pháp luật, vì động cơ hám lợi nên bị cáo có tình thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, tạo ra sự bất bình trong dư luận xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình có xem xét bị cáo Nguyễn Hoàng V có thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đã tự thú.

Tòa án cấp sơ thẩm có xem xét và xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V với mức án 15(mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Bị cáo Nguyễn Hoàng V kháng cáo kêu oan và ý kiến của vị Luật sư bào chữa bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng V, nhưng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ hay tình tiết nào mới để xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận, cho nên cần giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Hoàng V, thống nhất theo đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: bị cáo Nguyễn Hoàng V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Hoàng V.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HSST ngày 31-10-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02-7-2018.

Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hoàng V để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

196
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 240/2019/HS-PT ngày 08/05/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:240/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về