Bản án 240/2018/HS-ST ngày 16/11/2018 về tội tàng trữ hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 240/2018/HS-ST NGÀY 16/11/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 222/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Thanh X, sinh năm 1960 tại tỉnh Bình Dương; nơi ĐKNKTT: Khu phố Bình Thuận 2, phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn S (đã chết) và bà Phạm Thị R (đã chết); có chồng và 03 người con; tiền án:

Không, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957; trú tại: Khu phố B, phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương, có mặt.

2/ Bà Lê Thị T, sinh năm 1984; trú tại: Khu phố B, phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương, có mặt.

3/ Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1984; trú tại: Khu phố B, phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương, có mặt.

4/ Ông Trần Văn K, sinh năm 1957; trú tại: Khu phố 3, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21 tháng 01 năm 2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế Công an thị xã A phối hợp Công an phường T tuần tra trên đoạn đường Thủ Khoa Huân, khu phố H, phường T kiểm tra và thu giữ 100 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet giấu trong giỏ xách ny lon màu vàng treo bên hông xe mô tô và 50 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet giấu trong túi xách da treo tại móc cổ xe mô tô biển số 60L4-6953 do X điều khiển.

Thực hiện việc khám xét khẩn cấp nơi ở của X tại số nhà A14/22B, khu phố B, phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương phát hiện và thu giữ 1.696 bao thuốc lá nhập lậu các loại được cất giữ bên trong phòng ngủ của X, bao gồm: 676 bao thuốc lá Hero, 120 bao thuốc lá Esse Light, 50 bao thuốc lá Esse Special Gold, 200 bao thuốc lá nhãn hiệu Scott, 550 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet, 100 bao thuốc lá nhãn hiệu 555.

Quá trình điều tra, Phạm Thanh X khai nhận: X làm nghề mua bán tạp hóa tại số nhà A14/22B, khu phố B, phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương. Khoảng 02 năm trở lại đây, X nhiều lần mua thuốc lá nhập lậu với các nhãn hiệu Jet, Hero, 555, Esse, Scott của các đối tượng không rõ nhân thân, địa chỉ đem về cất giấu rồi bán lại cho các cơ sở tạp hóa trên địa bàn để kiếm lời. Đến ngày 21/01/2018 bị Công an khám xét, thu giữ toàn bộ số thuốc lá nhập lậu như đã nêu ở trên. Trước khi bị Công an phát hiện, X đã bán được khoảng 4.800 bao thuốc lá nhập lậu các loại cho các tiệm tạp hóa trên địa bàn phường T nhưng không nhớ người mua và địa chỉ cụ thể, thu lợi bất chính với số tiền 960.000 đồng và đã tiêu xài hết.

Vật chứng thu giữ: 1.846 bao thuốc lá nhập lậu gồm: 676 bao thuốc lá Hero, 120 bao thuốc lá Esse Light, 50 bao thuốc lá Esse Special Gold, 200 bao thuốc lá nhãn hiệu Scott, 700 bao thuốc lá nhãn hệu Jet, 100 bao thuốc lá nhãn hiệu 555; 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu PRETY, biển số 60L4-6953.

Bản Cáo trạng số 229/CT-VKS-TA ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Phạm Thanh X về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến gì về nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố.

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Thanh X từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

 [2] Lời khai nhận của bị cáo Phạm Thanh X tại phiên tòa phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21/01/2018, tại đoạn đường Thủ Khoa Huân thuộc khu phố H, phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương cơ quan Công an đã thu giữ 150 bao thuốc lá hiệu Jet để trên xe mô tô biển số 60L4-6953 do bị cáo X điều khiển. Thực hiện khám xét nơi ở của bị cáo X tại địa chỉ A14/22B, khu phố B, phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương đã phát hiện và thu giữ 676 bao thuốc lá hiệu Hero, 120 bao thuốc lá hiệu Esse Light, 50 bao Esse Special Gold, 200 bao thuốc lá hiệu Scott, 550 bao thốc lá hiệu Jet, 100 bao thuốc lá nhãn hiệu 555. Tổng cộng 1.846 bao.

Hành vi cất giữ hành cấm (thuốc lá điếu nhập lậu) tại nơi ở với số lượng 1.846 bao do bị cáo Phạm Thanh X thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố đối với bị cáo X là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với hàng hóa cấm cơ quan, cá nhân không có chức năng buôn bán, kinh doanh. Lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có hoàn cảnh gia đình khó khăn (đang nuôi 02 con bị hại liệt là Lê Thị T và Nguyễn Minh T). Do vậy, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đề nghị áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bịcáo là phù hợp.

Xét thấy bị cáo X có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không nguy hiểm cho xã hội hoặc gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do vậy, cần cho bị cáo X được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Từ những nhận định nêu trên, xét thấy việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Xuân là phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

 [3]Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án: Đối với 1.846 bao thuốc lá điếu thu giữ trong vụ án xét thấy đây là mặt hàng nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu PRETY biển số 60L4-6953 qua điều tra xác định người đứng tên giấy đăng ký xe là ông Trần Đình K. Ông K khai đã bán xe cho ông Hồ Minh L. Ông L khai đã bán lại xe cho bị cáo X vào khoảng tháng 02/2018 với giá 3.800.000 đồng. Việc mua bán xe của các đương sự chỉ làm giấy tay, không làm thủ tục sang tên. Xét thấy, đây là phương tiện phạm tội của bị cáo X nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 960.000 đồng mà bị cáo X thu lợi được từ việc bán thuốc lá điếu nhập lậu, xét thấy đây là số tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo X giao nộp để sung quỹ Nhà nước.

Đối với người mua và người bán thuốc lá nhập lậu cho bị cáo X hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

Đối với ông Nguyễn Văn T (chồng bị cáo X), ông Nguyễn Minh T (con ruột bị cáo X), bà Lê Thị T (con dâu bị cáo X) sống cùng với bị cáo X tại địa chỉ A14/22B, khu phố B, phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương không biết bị cáo X tàng trữ hàng cấm nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

 [4] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 191; Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh X phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh X 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Thanh X về Ủy ban nhân dân phường T, thị xã A, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục bị cáo X trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Phạm Thanh X thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 1.846 (một nghìn tám trăm bốn mươi sáu) bao thuốc lá.

- Tịch thu sung qũy Nhà nước 01 xe mô tô (kiểu dáng Dream), nhãn hiệu PRETY, số loại PT100-I, xy lanh 97 cm3, mang biển số 60L4-6953, số khung: LLKXCG001LX*007082*, số máy: VLKZS150FMG-2*000007082* và số tiền 960.000 (chín trăm sáu mươi nghìn) đồng.

 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2018 của Công an thị xã Thuận An).

- Buộc bị cáo X phải giao nộp số tiền 960.000 (chín trăm sáu mươi nghìn) đồng sung quỹ Nhà nước.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Phạm Thanh X phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


109
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 240/2018/HS-ST ngày 16/11/2018 về tội tàng trữ hàng cấm

Số hiệu:240/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về